Bạn hẳn đã từng nghe ai đó khuyên rằng, “cứ giả vờ cho đến khi thành thật”, câu này thường được áp dụng trong kinh doanh hoặc để giúp tăng tự tin nói chung. Lời khuyên thường nghe này có thể được áp dụng giúp khơi gợi cảm giác hạnh phúc, giải tỏa căng thẳng như cố gắng mỉm cười, tự thôi thúc mình phải cởi mở, hoặc liên tục khẳng định tích cực.

You may have heard the advice, “fake it until you make it,” which is often applied to business or overall self-confidence. This popular rhyming advice can also be applied to happiness-inducing, stress-relieving activities like forcing a smile, pushing yourself to be outgoing, or repeating positive affirmations. 

Thế nhưng những việc làm này có thực sự hiệu quả không, hay lại phản tác dụng? Dưới đây là một số tình huống trong nghiên cứu nói về tác dụng của việc “giả vờ lạc quan” và những ví dụ thể hiện tính lợi bất cập hại của phương châm này.

But do these activities work or can they backfire?  Here are some research-backed situations when faking it works and examples of when it can do more harm than good.

1. Giả vờ mỉm cười. Fake A Smile?

Bạn có thể nghe người ta khuyên theo cả hai phương án: nặn ra một nụ cười trên môi kể cả khi bạn không vui chỉ khiến bạn cảm thấy tệ hơn, hoặc giả vờ cười rồi bạn thực sự sẽ cười thật. Bạn thậm chí còn nghe có nghiên cứu ủng hộ cho cả hai góc nhìn này. Vậy, thực sự là thế nào?

You may have heard recommendations both ways: plastering on a smile when you feel unhappy can only make you worse, and a fake smile can lead to a real one. You may have even heard of research that backs up both positions. So, which is it?

Thực ra, nói một cách nào đó, cả hai góc nhìn đều đúng, và tình huống ta bàn đến ở đây có chút phức tạp. Khi bạn cười và coi nó như một cách để đè nén cảm xúc khó chịu, thì bạn có thể khiến bản thân cảm thấy tệ hơn. Chúng ta đều đã có lúc làm điều này để được xã hội chấp nhận. Và một số nghiên cứu thực sự cho rằng cố nặn ra một nụ cười thậm chí còn có thể giúp người trầm cảm cảm thấy ổn hơn.

Actually, in a way, both of these things are true, and the situation is a bit complex. When you smile as a way to repress upset feelings, you can make yourself feel worse. We all sometimes do this when we need to in order to be socially acceptable. And some research actually does suggest that forcing a smile can even help depressed people feel better.1

Nhưng nếu bạn luôn xử lý cảm xúc khó chịu bằng cách cố gượng cười và vờ như bạn không buồn thì điều này có thể tạo ra nhiều vấn đề khác. Bạn cảm thấy không còn là chính mình và đó có thể là một phần trong một vấn đề lớn hơn là không xử lý được cảm xúc của mình. Nếu bạn vờ mỉm cười với những người thân thiết thì họ sẽ không thể hỗ trợ, họ không biết có điều gì không ổn đang diễn ra, điều này khiến bạn không nhận được hỗ trợ từ xã hội, thứ có thể giúp bạn cảm thấy tốt hơn.

But if you always cope with unhappiness by forcing a smile and pretending you’re not upset, this can create other problems. It can feel inauthentic and it can be part of a greater pattern of not dealing with your feelings. If you fake a smile so those close to you, those who could offer support, don’t know that anything is wrong, this can keep you from getting social support that could make you feel better.

Mỉm cười khi cần nhưng hãy thể hiện bản thân của mình nếu được, và xử lý những cảm xúc của bản thân.

Smile when you need to, but let yourself be real when you can, and process your feelings.

Nguồn: Inc. Magazine

Tuy nhiên, nếu bạn cảm thấy không vui không buồn hay có hơi “nản một chút”, thì việc mỉm cười cũng khá hữu ích. Một nghiên cứu đã yêu cầu các đối tượng tham gia giả vờ cười và đo lường cảm xúc của họ một vài phút sau đó. Kết quả cho thấy cảm xúc tích cực được thúc đẩy sau khi họ mỉm cười; trong những trường hợp này, một nụ cười giả có thể đưa đến một nụ cười thật sự.

If, however, you are feeling neutral or just slightly “down,” smiling can help. One study asked subjects to fake smiles and measured how they felt after a few minutes of this. Results showed a boost in positive feelings as a result of the smiling; in these cases, the fake smiles tended to lead to real ones.

Các nhà nghiên cứu tin rằng lý do ở đây là tâm trí và cơ thể có giao tiếp với nhau. Từ góc độ tâm lý học, chúng ta hình thành thái độ bằng cách quan sát hành vi của chính mình như một người bên ngoài đứng quan sát. Vì lẽ đó, bạn có thể làm một cảm xúc trở nên sâu sắc hơn bằng cách thể hiện nó bằng cơ thể. (các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện ra rằng vươn thẳng lưng có thể thực sự khiến bạn cảm thấy tự tin hơn.

Researchers believe that this is because the mind and the body communicate. Psychologically, we infer our attitudes by watching our actions as an observer would. Therefore, you can intensify an emotion by physically expressing it. (Researchers have also found that standing up straighter can actually make you feel more confident.2 )

Một nghiên cứu khác đã yêu cầu các đối tượng tham gia dùng răng giữ một cây bút chì để kích hoạt cùng các nhóm cơ như lúc mỉm cười. Họ muốn xem xem liệu hành động nhoẻn cười có thể tạo ra cảm xúc tích cực không hoặc nếu chúng ta, khi bị ép phải mỉm cười, thì có nghĩ đến những điều khiến ta hạnh phúc hay không và những suy nghĩ này có đưa đến những nụ cười thực sự hay không. (Có nghĩa là một cú hích tâm trạng tích cực có thể xuất hiện là do những suy nghĩ vui vẻ thay vì bản thân hành động mỉm cười). Điều thú vị ở đây là, ngay cả những người “cười” vì họ đang dùng răng cắn bút chì cũng thấy bản thân mình cảm thấy vui vẻ hơn.

Another study had subjects hold a pencil in their teeth to activate the same muscles that are required for smiling.3 They wanted to see if the very act of smiling might create positive feelings or if people, when forcing a smile, would think of things that made them happy and those thoughts led to the real smiles. (This would mean that the boost in positive feelings would be due to the happy thoughts rather than the act of smiling itself.) Interestingly, even the subjects who were “smiling” because they were holding a pencil in their teeth found themselves feeling more positive as a result.

Và như để phức tạp hơn mọi thứ, một chuỗi các nghiên cứu khác cũng phát hiện ra rằng mỉm cười có thể tạo ra khác biệt. Nghiên cứu từ Đại học Northwestern đã phát hiện ra những người nghĩ rằng nụ cười phản chiếu tâm trạng tốt có thể thấy bản thân thực sự vui vẻ hơn khi họ cười nhiều hơn. Tuy nhiên, những người coi mỉm cười làm mình hạnh phúc thay vì hạnh phúc làm mình mỉm cười lại thấy việc cười thường xuyên hơn thực sự có thể đưa đến hiệu ứng ngược. Chìa khóa ở đây là nếu bạn nghĩ nụ cười là một thức gì đó bạn làm vì tâm trạng của mình đang tốt thì mỉm cười thường sẽ khiến bạn cảm thấy vui hơn. Nếu bạn coi nó là một thứ bạn chỉ làm để cảm thấy ổn hơn thì tâm trạng của bạn sẽ không thể được thúc đẩy.

Just to complicate things, another series of studies found that our beliefs about smiles can also make a difference here. Research from Northwestern University found that those who think of smiles as a reflection of their good mood can find themselves feeling happier when they smile more frequently.4 However, those who see smiling as a cause of happiness rather than a result of it find that more frequent smiling actually has the opposite effect.5 The key here is that if you think of your smiles as something that you do because you’re in a good mood, smiling more often should make you feel better. If you think of it as something that you’re only doing to feel better, you might not get the same positive boost.

Nếu bạn rơi vào trường hợp này, thì bạn nên dành ra một hai phút để tập trung vào những điều tích cực trong cuộc sống, hãy nhớ về một điều gì đó vui vẻ nhất mới xảy ra gần đây với bạn, hoặc không thì hãy tập trung vào những thứ khiến bạn tự nhiên mỉm cười.

If this is true for you, you might want to take a minute or two and focus on the positive things in your life, remember the last really funny thing that happened to you, or otherwise focus on things that make you smile naturally.

Điều quan trọng bạn cần nhớ là bạn vẫn nên thực sự mỉm cười, dù rằng cười kiểu nào cũng có lợi cả. Nếu bạn có thể nghĩ đến những thứ thực sự khiến bản thân vui vẻ như một cách để thay đổi góc nhìn và khiến mình muốn mỉm cười thì điều đó quá tốt. Nhưng nếu bạn không thể khiến bản thân nghĩ về những điều thực sự hạnh phúc như vậy chỉ trong một vài giây ngắn ngủi thì “vờ cười” vẫn là một con đường tắt đơn giản và thường là vẫn có hiệu quả.

The important thing to remember is that real smiles are preferable, even though both types can bring benefits. If you can think of things that can genuinely make you happy as a way to change your outlook and make yourself feel like smiling, that is ideal. But if you can’t get yourself to that kind of happy place in seconds, faking a smile is a simple shortcut that most often works.

Bên cạnh lợi ích về sức khỏe và tinh thần, mỉm cười còn giúp bạn kiểm soát căng thẳng tốt hơn. Một trong những điều bạn cần biết là khi bạn trang bị cho mình một biểu hiện tích cực, bạn có thể “lây” nó sang cho người khác. Mỉm cười và thế giới sẽ mỉm cười lại với bạn, người xưa đã nói. Gặp gỡ người này người kia mỉm cười vui vẻ với bạn cũng khiến bản thân bạn thực sự mỉm cười hạnh phúc hơn.

Aside from the emotional and health benefits of smiling, there are stress management benefits as well. One of the most significant is that, when you wear a positive expression, it can be contagious. Smile and the world smiles back at you, as the saying goes. Walking around with everyone responding more positively to you can lead to more genuine smiles for you as well.

Khẳng định: Hãy vờ mỉm cười – nhưng chỉ trong một số trường hợp nhất định! Nếu bạn vờ mỉm cười để thúc đẩy tâm trạng lạc quan, thì nhìn chung nó sẽ có hiệu quả nếu bạn coi nụ cười là một cách phản chiếu tâm trạng tích cực. Nếu bạn vờ mỉm cười để ngăn bản thân khỏi phải xử lý những cảm xúc hoặc những thứ khiến bạn buồn hoặc nếu bạn coi việc cố rặn ra một nụ cười là một “chiêu” để khiến bản thân thấy vui thì nó có thể khiến bạn cảm thấy tệ hơn về lâu dài. Và nếu bạn có thể khiến bản thân thích mỉm cười, đó chính là con đường tốt nhất!

The Verdict: Fake itbut only under certain conditions! If you fake a smile to give yourself a boost in positivity, this generally works well if you think of the smile as a reflection of your good mood. If you fake a smile to keep from dealing with your feelings or the things that are making you sad, or if you think of a forced smile only as a trick to make you happy, this can make you feel worse in the long run. And if you can make yourself feel like smiling, that’s the best route to take!

2. Giả vờ xác nhận. Fake an Affirmation?

Nguồn: Amazon.com

Xác nhận tích cực là cách thức được đông đảo mọi người khuyến nghị trong các nhóm tự lực. Theo một nghĩa nào đó, chúng là một phương thức “vờ” tạo một số niềm tin vào bản thân và cuộc sống để nỗ lực biến những niềm tin đó thành hiện thực lâu dài hơn.

Positive affirmations are widely recommended in some self-help circles. In a sense, they are a method of “faking” beliefs about yourself and your life in an attempt to make those beliefs more of a permanent reality.

Khuyến nghị được đưa ra trong cuốn sách bán chạy nhất đầu những năm 2000, The Secret, dựa một phần vào hiệu quả của xác nhận tích cực. Hình thức này cũng được nhiều cuốn sách tự lực bán chạy khác khuyến nghị và đã thu được kha khá lượng người tin và nghe theo trong những năm gần đây.

The recommendations of the early 2000s bestselling book, The Secret, are based, in part, on the effectiveness of positive affirmations. But affirmations are recommended by many other bestselling self-help books as well and have gained quite a following in recent years.

Xác địnhtích cực có thể được ví như một dạng thần chú cá nhân, và được khuyến nghị lặp đi lặp lại như một cách để tái lập tiềm thức của một người nhằm thay thế những niềm tin tiêu cực bằng những niềm tin tích cực hơn, đặc biệt là khi đó là những niềm tin về chính bản thân mình.

Affirmations can be likened to personal mantras, and are recommended to be repeated as a way to reprogram one’s subconscious mind to replace negative beliefs with more affirming ones, particularly when they are beliefs about one’s self.

Nhưng liệu chúng có hiệu quả? Một số người cho rằng những người lặp đi lặp lại xác nhận tích cực đơn giản là đang tự lừa dối bản thân và về lâu dài, chúng sẽ không còn hiệu quả hoặc thậm chí phản tác dụng vì chúng ta đều đang tự huyễn hoặc bản thân. Có đúng vậy không?

But do they work? Some people say that those who repeat affirmations over and over are simply fooling themselves and in the long run, they are ineffective or even damaging because they are self-delusional. Are they right?

Điều thú vị là, đối với xác nhận tích cực, những người phản đối cũng có cái đúng. Nghiên cứu chỉ ra rằng xác nhận tích cực thực sự có thể phản tác dụng trong một số tình huống nhất định. Cụ thể hơn, khi con người ta lặp đi lặp lại những lời xác nhận mà họ không thực sự tin hoặc thậm chí là đi ngược lại với những gì họ tin thì tiềm thức sẽ từ chối những lời khẳng định này, nó thực sự sẽ dần chống lại những ý tưởng này và kết quả là chủ thể sẽ càng căng thẳng! Vậy nên, xác nhận sai lầm thực sự có thể lợi bất cập hại.

Interestingly, when it comes to affirmations, the naysayers have a point. Research has actually shown that positive affirmations can actually backfire in certain situations.6 More specifically, when people repeat affirmations that they do not truly believe or that are even the opposite of what they truly believe, the subconscious mind rejects these affirmations and actually becomes more resistant to the ideas and more stressed as a result! So in this way, the wrong affirmations really can do more harm than good.

Chìa khóa ở đây là những lời xác nhận sẽ có hại khi chúng là những thứ ta lặp đi lặp lại nhưng lại đi ngược lại với suy nghĩ của chúng ta – hoặc ít nhất là có khoảng cách đáng kể với những niềm tin thực. Điều này không đúng đối với những lời xác nhận vốn chủ thể đã tin là đúng hoặc có thể đúng. Chúng ta cần phân biệt rõ điểm này vì những lời xác nhận khớp vớii niềm tin thực có thể thực sự có tác dụng tăng cường những niềm tin này và mở rộng chúng. Xác nhận tích cực trùng khớp với những gì bạn thực sự nghĩ có thể tạo ra ảnh hưởng tích cực mạnh mẽ.

The key here is that more damaging affirmations are those that people repeat when they are the opposite of what they really thinkor are at least significantly far from their true beliefs. This isn’t true for affirmations that repeat what people believe to be true already, or that people believe could be true. This is an important distinction because affirmations that align with one’s true beliefs really do work in strengthening these beliefs and expanding upon them. But positive affirmations that align with how you really think can have a powerfully positive effect.

Một ví dụ về sự xác nhận có thể phản tác dụng là khi một ai đó đang có vấn đề với ngoại hình của mình: Mình là người phụ nữ đẹp nhất thế gian. Vì điều này quá xa vời với những gì cô này tự cảm thấy về bản thân, tiềm thức của cô sẽ xung đột, và lời xác nhận này lại tạo ra căng thẳng thay vì thay đổi tích cực.

An example of an affirmation that would backfire for someone who is dealing with discomfort about their appearance: I am the most beautiful woman in the world. Because it is so far off from how the woman actually feels about herself, her subconscious mind would put up a fight, and the affirmation would create stress without creating positive change.

Một lựa chọn khác tốt hơn: Tôi đủ đẹp, hoặc tôi đẹp cả bên trong và bên ngoài. Nếu người phụ nữ đang nỗ lực ăn uống lành mạnh và cân bằng thời gian tập thể dục, cô ta có thể có những lời khẳng định ủng hộ điều này, như “Tôi đang nỗ lực để có vẻ đẹp và sức khỏe tốt hơn mỗi ngày, hoặc tôi đang mạnh mẽ dần, tôi đang khỏe mạnh lên, và thậm chí là, tôi mạnh mẽ, tôi khỏe mạnh, tôi xinh đẹp.

A better option would be: I am beautiful enough, or I am beautiful inside and out. If the woman were attempting a healthier diet and balanced exercise schedule, she may create affirmations to support this, such as I am working toward greater health and beauty every day, or I am getting stronger, I am getting healthier, and eventually, I am strong, I am healthy, I am beautiful.

Một số ví dụ khác. Here are more examples.

– Phi thực tế: Tôi toàn vẹn và hoàn toàn bình yên trong tâm hồn. Unrealistic: I am at complete and total inner peace.

– Thực tế hơn: Tôi đang nỗ lực để bản thân cảm thấy bình yên, hoặc Tôi đang trở nên bình yên hơn. More realistic: I am working toward feeling at peace, or I am becoming more peaceful.

– Phi thực tế: Tôi mạnh mẽ và không gì có thể làm tôi tổn thương. Unrealistic: I am strong and nothing hurts me.

– Thực tế hơn: Tôi đang dần mạnh mẽ hơn và có thể chống chọi với thử thách này, hoặc Tôi sẽ vượt qua những trở ngại này.

More realistic: I am getting stronger and can weather this challenge, or I will overcome these obstacles.

– Phi thực tế: Cuộc sống của tôi hoàn hảo theo mọi cách. Unrealistic: My life is perfect in every way as it is.

– Thực tế hơn: Cuộc sống của tôi đang trở nên tốt đẹp hơn, hoặc Tôi đang nỗ lực để có một cuộc sống tốt hơn (Thậm chí bạn cũng nên liệt kê những cách giúp cuộc sống của bạn trở nên tốt hơn, theo một nhóm những câu khẳng định riêng.) More realistic: My life is becoming better, or I am working toward a better life. (Even better would be to list the ways in which life is becoming better, as separate affirmations.)

Những câu này nghe như chẳng có mấy khác biệt, nhưng đối với tiềm thức của bạn, chúng có ý nghĩa rất lớn. Và bạn cũng cần lưu ý rằng đây chỉ là ví dụ. Nếu những lời khẳng định được gắn nhãn là “phi thực tế” thực sự có thể cộng hưởng đúng với con người bạn, thì bạn hoàn toàn có thể sử dụng chúng. Tuy nhiên, nếu chúng quá xa vời hoặc đi ngược với những gì bạn thực sự tin ngay lúc này, thì tốt nhất bạn nên giảm bớt chúng để phù hợp với những gì bạn tin về bản thân và tình huống ngay lúc đó.

These may seem like minor distinctions, but to your subconscious mind, they are significant. And it is important to note that these are only examples. If the affirmations labeled “unrealistic” actually do resonate with you as true, it is fine to use them. However, if they are far-off or opposite of what you really believe at this point, it is best to soften them to match the best of what you can believe about yourself and your situation at this moment.

Khẳng định: Cẩn trọng với cách bạn sử dụng chúng! Lời xác nhận quá xa rời với những niềm tin thực sự của bạn có thể phản tác dụng. Những lời xác nhận phản ánh những khía cạnh tốt nhất của những gì bạn tin tưởng và xây dựng dựa trên chúng, hoặc khiến bạn đi theo hướng đúng đắn mới chính là chìa khóa.

The Verdict: Be careful how you use them! Affirmations that are far from what you actually believe can backfire. Affirmations that capture the best aspects of what you already believe and build on them, or move you in the right direction are key.

3. Giả vờ cở mở? Fake Being Outgoing?

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng người hướng ngoại thực sự hạnh phúc hơn người hướng nội. Họ cũng thành công hơn trong cuộc sống. Điều này nghe như một tin xấu với những người có bản tính hướng vào nội tâm, vì khuynh hướng thích hoặc không thích hướng ngoại là một điều gì đó sinh ra đã có. Tuy nhiên, tin tốt là chúng ta có thể thay đổi những khuynh hướng này có chủ đích bằng cách chủ động hành xử hướng ngoại trong một số tình huống nhất định, và đã có bằng chứng nghiên cứu cho quan điểm này.

Research shows that extroverts are actually happier than their introverted counterparts.7 They’re also more successful in life. This can feel like bad news for those who naturally tend toward introversion, as the tendency to be more or less extroverted is something that we are born with. However, the good news is that we can shift these tendencies on purpose by consciously acting extroverted in certain situations, and research has backed this up.

Trong một nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã yêu cầu những người hướng nội và hướng ngoại hành xử một cách hướng ngoại và phát hiện ra rằng người hướng nội và người hướng ngoại đều thực sự vui vẻ hơn. Trong bối cảnh của nghiên cứu này, “hành xử hướng ngoại” có nghĩa là hành xử tự tin và cởi mở trong một bối cảnh xã hội kéo dài trong một tiếng. Điều này không phải là ép bản thân phải thay đổi bản chất của mình hoàn toàn – người hướng nội cần nhiều “thời gian hạ nhiệt” hơn sau một màn tương tác xã hội chẳng hạn, và nếu không được thì người hướng nội sẽ cảm thấy kiệt sức cực kỳ. Tuy nhiên, nếu bạn có xu hướng hướng nội, bạn vẫn sẽ nhận được ích lợi từ việc hành xử tự tin và cởi mở hơn trong một số bối cảnh nhất định, không chỉ vì bạn có thể kết nối với nhiều người và mở rộng nguồn lực xã hội của bạn hơn, mà còn bởi bạn sẽ có một khoảng thời gian vui vẻ, thúc đầy niềm vui của bản thân, và ngược lại, giảm thiểu mức độ căng thẳng trong quá trình thực hiện.

In one study, researchers asked introverts and extroverts alike to act extroverted and found that introverts and extroverts alike experienced a boost in happiness.8 In the context of this research, “acting extroverted” means acting confident and outgoing in a social situation that lasts around an hour. This is distinct from pushing yourself to change your full natureintroverts need more “down time” after social interactions, for example, and it would be exhausting for an introvert not to allow for this. However, if you are more introverted, you may benefit from acting more confident and outgoing in certain social situations, not only because you will likely connect with more people and expand your social resources, but because you will have a good time, boost your happiness, and in turn minimize your stress levels in the process

Nếu bạn thấy điều này chưa đủ hợp lý, tôi sẽ chỉ ra cho một nghiên cứu thú vị khác cho thấy bạn không hề đơn độc trong phạm trù này. Nghiên cứu này tiến hành yêu cầu nhóm người hướng nội dự đoán mức độ hạnh phúc của bản thân bằng cách hành xử một cách hướng ngoại, và họ liên tục đánh giá mức độ vui vẻ họ sẽ cảm thấy thấp hơn những gì họ thực sự cảm thấy. Điều này có thể là một lý do khiến nhiều người hướng nội gặp khó khăn trong việc bước ra khỏi vỏ bọc của mình – không chỉ bởi họ phải nỗ lực nhiều hơn, mà còn vì họ không chắc về phần thưởng mình nhận được có xứng đáng với nỗ lực đó hay không. Cứ yên tâm, hãy thử cho mình một cơ hội, bạn sẽ không hối hận vì quyết định này. Đây là chỉ một cách hay để giải tỏa căng thẳng nếu bạn là một người hướng nội.

If this sounds unrealistic to you, I’ll point you to another interesting study that shows you’re not alone in this idea. This research asked introverts to predict how happy they would feel by acting extroverted, and they consistently underestimated how good it would feel to act more extroverted than they felt.9 This may be part of why the more reserved among us have a difficult time coming out of their shellsnot only does it take effort, but they’re not sure that the reward is worth that effort. Rest assured, if you give it a try, you will likely be glad you did. This is just one effective way to relieve stress if you’re an introvert.

Khẳng định: Hãy cứ giải vờ cười! Hành xử như một người hướng ngoại trong một số tình hưống nhất định có thể giúp cả người hướng nội và hướng ngoại cảm thấy hạnh phúc hơn.

The Verdict: Fake it! Behaving like an extrovert in certain social situations can help both introverts and extroverts feel happier.

Kết luận. The Bottom Line

Thường thì câu nói “Giờ vờ cho đến khi thành thật” có thể áp dụng để cải thiện tâm trạng. Có một số tình huống nhất định tiềm thức của bạn biết bạn đang giả vờ và bạn sẽ không dễ “lòe” nó. Tuy nhiên, nếu bạn có thể bước tiếp và cảm thấy vui vẻ hơn, ít căng thẳng hơn kèm với một nụ cười khi mà bạn vốn không thể nghĩ mình cười được, lặp đi lặp lại một suy nghĩ tích cực bạn bạn thực sự tin nó có thật, hoặc tự có động lực hành xử thân thiện hơn, hãy cứ làm như vậy! Nếu bạn cảm thấy quá giả tạo và bản thân cảm thấy tệ hơn thì hãy thử một hành động thúc đẩy lạc quan khác có hiệu quả hơn.

Usually the phrase “fake it until you make it” can apply to being in a good mood.  There are certain conditions where your subconscious mind knows you’re faking it and it won’t be fooled.  However, if you can move toward feeling happier and less stressed with an extra smile when you may not have thought of smiling, a repetition of a positive thought that you actually believe, or an internal push toward friendlier behavior, do it!  If this feels too fake for you and you start to feel worse, try another positivity-boosting activity instead.

Tham khảo. Sources

Arora S, Sharma R. Positive affect, psychotherapy, and depression. Indian J Psychiatry. 2018;60(2):199-204. doi:10.4103/psychiatry.IndianJPsychiatry_384_17

Miragall M, Etchemendy E, Cebolla A, Rodríguez V, Medrano C, Baños RM. Expand your body when you look at yourself: The role of the posture in a mirror exposure task. PLoS ONE. 2018;13(3):e0194686.  doi:10.1371/journal.pone.0194686

Davey G, Sterling C, et al. Complete Pscyhology (Second Edition). Routledge. 2015.

Labroo A, Mukhopadhyay A, Dong P. Not Always the Best Medicine: Why Frequent Smiling Can Reduce Wellbeing. Journal of Experimental Social Psychology. 2014;53:156-162.  doi:10.1016/j.jesp.2014.03.001

Scott BA, Barnes CM. A multilevel field investigation of emotional labor, affect, work withdrawal, and gender. Academy of Management Journal. 2011;54(1):116136. doi:10.5465/AMJ.2011.59215086

Ferrer RA, Klein WM, Graff KA. Self-affirmation increases defensiveness toward health risk information among those experiencing negative emotions: Results from two national samples. Health Psychol. 2017;36(4):380-391.  doi:10.1037/hea0000460

Cabello R, Fernandez-berrocal P. Under which conditions can introverts achieve happiness? Mediation and moderation effects of the quality of social relationships and emotion regulation ability on happiness. PeerJ. 2015;3:e1300.  doi:10.7717/peerj.1300

Margolis S, Lyubomirsky S. Experimental manipulation of extraverted and introverted behavior and its effects on well-being. J Exp Psychol Gen. 2020;149(4):719-731.  doi:10.1037/xge0000668

Zelenski JM, Whelan DC, Nealis LJ, Besner CM, Santoro MS, Wynn JE. Personality and affective forecasting: trait introverts underpredict the hedonic benefits of acting extraverted. J Pers Soc Psychol. 2013;104(6):1092-108. doi:10.1037/a0032281

Nguồn:https://www.verywellmind.com/when-to-fake-happiness-for-stress-relief-4068437

Như Trang.

Advertisement