Phản kháng tâm lý xuất hiện khi chủ thể nhận thấy tự do lựa chọn của mình bị hạn chế, đây là một trạng thái mang tính thúc đẩy chủ thể lấy lại sự tự do này. Tình trạng này khiến họ làm ngược lại với những gì họ nghĩ mình bị ép phải làm.
Reactance theory suggests that when individuals perceive their freedom of choice is being restricted, they experience psychological reactance, a motivational state aimed at reclaiming that freedom. This often results in them doing the opposite of what they feel pressured to do.

Ý tưởng cơ bản. The Basic Idea
Những năm tháng thanh thiếu niên nổi tiếng là khoảng thời gian khó khăn và bực bội cho các bậc cha mẹ. Thanh thiếu niên được biết là chẳng còn lắng nghe ai, liều lĩnh và làm những điều ngu ngốc. Một số phim ảnh và chương trình nổi tiếng có nói về sự nổi loạn của thanh thiếu niên – Rebel without a Cause, West Side Story, Footloose. Ngay cả vở Romeo và Juliet trứ danh của Shakespeare cũng là về hai thanh thiên nổi loạn chống lại ý muốn của gia đình. “Thanh thiếu niên” bản thân nó cũng đã trở thành một hiện tượng văn hóa.
Teenage years are infamously known as the most difficult and frustrating time for parents. Teenagers are known to not listen to anyone, be reckless, and do stupid things. Some of the most popular films and TV shows are about teenage rebellion – Rebel Without a Cause, West Side Story, Footloose. Even Shakespeare’s good old Romeo and Juliet features two teenagers rebelling against their families’ desires. “Teenage” has become a cultural phenomenon of its own.
Tuy nhiên, không chỉ có thanh thiếu niên mới làm ngược lại những gì người khác nói. Nếu bạn nói một tay nhậu hạng nặng ngừng uống, họ có thể phản ứng lại bằng cách uống nhiều hơn. Nếu bảng hiệu ở triển lãm bảo tàng ghi “Cấm sờ”, ta đột nhiên có thôi thúc muốn sờ vào đồ triển lãm. Khi chính phủ nói mọi người đeo khẩu trang để bảo vệ nhau khỏi COVID-19, các cuộc biểu tình diễn ra, vì một số người coi việc đeo khẩu trang là vi phạm quyền tự do của họ.
However, it isn’t just teenagers who do the opposite of what they’re told. If you tell a heavy drinker to stop drinking, they may respond by drinking even more. If a sign for a museum exhibit says “do not touch,” we suddenly have the urge to touch the exhibit. When the government told people to wear face masks to protect others from COVID-19, protests ensued, as some viewed wearing a mask as an infringement upon their freedom.
Sự nổi loạn vô cớ chống lại lời khuyên hoặc lời hướng dẫn này có thể được giải thích bằng thuyết phản kháng tâm lý. Được giới thiệu bởi Jack W. Brehm vào năm 1966, học thuyết này cho rằng khi một người cảm thấy sự tự do hay kiểm soát của họ bị đe dọa bởi lời khuyên, thì họ có thể có động lực bảo vệ quyền tự chủ của mình. Trong lúc này, “trái cấm” là thứ họ mong muốn có được, và họ sẽ cố để đoạt được nó bằng mọi cách. Thường thì, nó sẽ khiến một người làm ngược lại cái người khác bảo họ làm. Đây là lý do vì sao người ta nổi loạn mà chẳng cần lý do cụ thể nào cả – họ muốn lấy lại sự tự do và thu lại quyền kiểm soát bị đe dọa.
This causeless rebellion against advice or instruction can be explained by reactance theory. Proposed by Jack W. Brehm in 1966, this theory posits that when an individual feels that their freedom or control is being threatened by advice, they are motivated to protect their autonomy.1 In this situation, the “forbidden fruit” becomes more desirable, and the individual tries to acquire it by any means.1 More often than not, this results in someone doing the opposite of what they are told. This is why people rebel without any particular cause – they want to restore their threatened freedom and regain control.

Phản kháng tâm lý xoay quanh quan niệm về sự tự do. Vì vậy, nhận thức của ta về tự do sẽ ảnh hưởng lên mức độ xuất hiện của sự phản kháng. Có 4 nguyên lý chính đằng sau học thuyết này:
Psychological reactance revolves around the concept of freedom. Thus, our perception of freedom influences the extent to which we may show reactance. There are four basic principles implicated by the theory:
Trong tình huống đặt ra, sự phản kháng có thể chỉ xuất hiện khi một người tin rằng họ có quyền kiểm soát hoặc tự do quyết định kết cục.
In a given situation, reactance can only occur when an individual believes they have control or freedom over the outcome.
Phản kháng với một mối đe dọa sẽ chỉ tương xứng với tầm quan trọng ta nghĩ về sự tự do. Nếu sự tự do bị đe dọa rất quan trọng, thì sự kháng cự cũng sẽ nghiêm trọng tương đương.
Reactance to a threat will only be as great as the perceived importance of freedom. If the freedom being threatened is very important, reactance to it will also be great.
Số lượng sự tự do bị đe dọa càng nhiều, thì phản kháng được khơi dậy sẽ càng lớn. Ví dụ, nếu một người bị yêu cầu ngừng uống rượu bia hoàn toàn, thì phản kháng sẽ lớn hơn nếu họ chỉ bị yêu cầu uống với lượng vừa phải.
The greater number of freedoms threatened, the greater will be the reactance aroused. For instance, if a person is asked to stop drinking alcohol altogether, the reactance to this may be greater than if they are asked to drink in moderate amounts.
Phản ứng với một mối đe dọa có thể tăng lên khi có tác động của các mối đe dọa khác. Ví dụ, nếu một giáo sư yêu cầu sinh viên không ăn trong lớp, sinh viên này có thể suy diễn rằng cả cà phê hay nước cũng không được uống luôn. Sự phản kháng lúc này sẽ tăng lên.
Reactance to a threat may increase when there are implications of other threats. For instance, if a professor asks a student not to eat in class, the student may infer that this also means not to drink coffee or have water. The reactance will thus increase.1
“Sự quyến rũ của điều cấm kỵ khiến nó trở nên đáng ao ước một cách khó diễn tả.”
“There is a charm about the forbidden that makes it unspeakably desirable.”
– Mark Twain, Mark Twain’s Notebook, 1935
Các thuật ngữ chính. Key Terms
– Thuyết bất hòa nhận thức: Khi chủ thể thấy thái độ, giá trị, hoặc niềm tin của mình xung đột với hành vi của họ, họ sẽ bị thôi thúc hành xử làm sao để thái độ và hành vi phù hợp với nhau, giúp giảm bớt bất kỳ sự khó chịu nào gây ra bởi sự bất hòa này. Ví dụ, nếu một người có ý thức xã hội đầu tư vào ngành thời trang “ăn liền” biết về những người lao động bị trả lương thấp để sản xuất chúng, họ có thể nỗ lực xem nhẹ giá trị thông tin này bằng cách viện cơ chối quanh.
Cognitive Dissonance Theory: When individuals find their attitudes, values, or beliefs conflicting with their behaviours, they are motivated to act in ways that align attitudes and behaviours, which reduces any discomfort arising from this dissonance.3 For instance, if a socially aware person who invests in fast fashion learns about the underpaid workers who produce it, they may attempt to diminish the value of this new information by explaining it away.

– Phản kháng thành tính: Là khuynh hướng vốn có của một người liên tục coi các tình huống là mối đe dọa với sự tự do của họ. Người có phản kháng đặc tính cao có thể dễ trải nghiệm tiêu cực hơn khi phản ứng với các mối đe dọa và cho thấy sự phản kháng lớn hơn với sự thuyết phục. Dù một thông điệp, yêu cầu hay lời khuyên có được đóng khung thế nào, thì họ cũng sẽ coi nó là một mối đe dọa với sự tự do của họ, từ đó gây sự phản kháng.
Trait Reactance: A person’s inherent tendencies consistently perceive situations as threats to their freedom.2 Individuals high in trait reactance may be more likely to experience negative affect in response to threats and display greater resistance to persuasion. No matter how a message, request, or piece of advice might be framed, they will perceive it as a threat to their freedom, resulting in reactance.
– Tâm lý ngược: là thuật ngữ đại chúng dành cho khái niệm “tự chống đối có chiến lược”, tâm lý ngược là một chiến thuật được sử dụng khi một người mong đợi đối tượng đích bất đồng với họ, và ngụ ý một sắp xếp sai lệch vốn ngược lại với mong muốn thật của họ. Như mong đợi, đối phương không đồng ý và bị thao túng để đồng ý với chính sắp xếp mà thật tâm mà chủ thể mong muốn. Ví dụ, nếu bạn muốn ăn ở nhà hàng A, nhưng biết rằng bạn mình có thể không đồng ý, bạn có thể ngụ ý bạn thích ăn ở nhà hàng B hơn. Vì sự tự do chọn lựa của họ bị đe dọa, nên bạn của bạn sẽ cho thấy sự phản kháng và chọn nhà hàng A – là nơi bạn muốn chọn – trong khi vẫn tin rằng đó là lựa chọn của họ.
Reverse Psychology: The mainstream term for “strategic self-anticonformity,” reverse psychology is a tactic used when an individual expects a target to disagree with them, and indicates a false position which is the opposite of their true desire.5 As expected, the target disagrees and is manipulated into agreeing with the individual’s true position. For example, if you want to eat at restaurant A, but know your friend to be disagreeable, you may indicate that you prefer to eat at restaurant B. With their freedom being threatened, your friend would show reactance and choose restaurant A – the place of your choice – while believing that it was their choice.
– Thuyết triển vọng: Còn được gọi là “thuyết ác cảm mất mát”, thuyết này cho rằng vì con người ta nhạy cảm với cái họ mất hơn là cái họ thu được, nên họ sẽ kiều lĩnh để tránh mất mát hơn là đạt được thành tích thu được tương tự.
Prospect Theory: Also known as “loss-aversion theory,” this theory suggests that since people are more sensitive to losses than gains, they would take more risks to avoid losses than acquire equivalent gains.14

Lược sử. History
Jack W. Brehm lần đầu đưa ra thuyết phản kháng tâm lý này trong bài báo năm 1966 của mình. Thuyết này bắt nguồn từ thuyết bất hòa nhận thức, được giới thiệu bởi cố vấn luận án của Brehm, Leon Festinger, vào năm 1957. Theo thuyết bất hòa nhận thức, con người ta cảm thấy không thoải mái khi những giá trị hoặc niềm tin của mình xung đột với hành vi của bản thân. Muốn duy trì sự nhất quán giữa thái độ và hành vi, chúng ta cố giải quyết bất hòa này, thường là bằng cách thay đổi thái độ. Như thuyết bất hòa nhận thức, phản kháng tâm lý cũng là giảm bớt sự khác biệt giữa thái độ và hành vi, đặc biệt là tập trung vào nhận thức về sự tự do và các hành vi đi kèm sau đó.
Jack W. Brehm first proposed the psychological reactance theory in his seminal 1966 paper. The theory stemmed from cognitive dissonance theory, proposed by Brehm’s dissertation advisor, Leon Festinger, in 1957.2 According to cognitive dissonance theory, people feel a sense of discomfort when their values or beliefs are in conflict with their behaviour. Motivated to maintain consistency between attitudes and behaviours, they try to resolve this dissonance, often by making changes in their attitudes.3 Like cognitive dissonance theory, reactance theory involves reducing discrepancy between attitudes and behaviours, specifically focusing on perceptions of freedom and subsequent behaviours.2
Năm 1981, Sharon S. Brehm và Jack W. Brehm đã mở rộng học thuyết này, bao gồm luôn cả thuật ngữ “phản kháng thành tính”. Tình trạng này xuất hiện khi chủ thể có khuynh hướng liên tục nhận thấy mối đe dọa với sự tự do của mình, vì vậy luôn muốn lấy lại nó. Công trình của cả hai người đã mở ra một làn sóng nghiên cứu đặc biệt hữu ích trong tâm lý học lâm sàng và cải thiện các mối quan hệ giữa trị liệu viên và khách hàng.
In 1981, Sharon S. Brehm and Jack W. Brehm expanded the theory to include the term “trait reactance.”2 Trait reactance occurs when an individual has a dispositional tendency to consistently perceive threats to their freedom, and thus is motivated to regain it.2 Brehm & Brehm’s work unleashed a wave of research that has been especially useful in clinical psychology and improving relations between therapists and clients.

Năm 1991, nghiên cứu về thuyết phản kháng tâm lý được mở rộng sang địa hạt về giao tiếp và đóng khung thông điệp, được thực hiện bởi Lillian Southwick Bensley và Rui Wu, họ đã nghiên cứu cách mà sinh viên phản hồi lại các thông điệp đóng khung liên quan đến hành động chống uống rượu bia theo những cách khác nhau. Họ phát hiện ra rằng, các thông điệp có từ ngữ mạnh mẽ thường đưa đến sự phản kháng. Ngoài ra, họ cũng phát hiện ra rằng thông điệp hiệu quả nhất là khi con người ta được nhắc nhở về sự tự do họ có, nếu đó là thông điệp mới, hãy sử dụng lối kể chuyện, hoặc cảnh báo trước cho họ về sự đe dọa tiềm ẩn đối với sự tự do của họ.
In 1991, research on reactance theory was expanded into the realm of communication and message framing by Lillian Southwick Bensley and Rui Wu, who studied how college students reacted to differently framed anti-drinking messages.2 They discovered that strongly worded messages often induced reactance. Furthermore, they found that messages were most effective when people are reminded of their freedom, if the message is novel, uses a narrative, or forewarns people of potential threats to their freedom.2
Sau khi tiến hành nghiên cứu sâu rộng về các phương pháp giúp phát triển một hình thức đo lường sự phản kháng, làn sóng nghiên cứu cuối cùng về thuyết phản kháng lại quy nó ngược về lại với tâm lý học động lực. Brahm từ đầu đã đưa ra học thuyết này như một cấu phần của động lực, và từ năm 2006 trở đi, các nhà nghiên cứu đã kết hợp học thuyết này với các khung lý thuyết khác về động lực, như thuyết tự quyết. Sự trả lại này đã củng cố vị thế của thuyết phản kháng trong địa hạt tâm lý học động lực.
After ample research was done studying methods to develop a measurement of reactance, the final wave returned reactance theory research to motivational psychology.2 Brehm had originally proposed the theory as a motivational construct, and from 2006 onwards researchers paired the theory with other motivational frameworks, like self-determination theory.2 This return has solidified reactance theory’s position within the area of motivational psychology.
Những người nổi tiếng. People
Jack W. Brehm. Jack W. Brehm
Sinh năm 1928, Jack W. Brehm là một trong những nhà tâm lý học về động lực có ảnh hưởng nhất thế giới. Sau khi tốt nghiệp Harvard, ông hoàn thành luận văn tiến sĩ của mình tại Đại học Minnesota. Dưới sự dẫn dắt của Leon Festinger, luận văn của ông là nghiên cứu đầu tiên về bất hòa nhận thức đã được xuất bản, sau này hình thành nên nền tảng cho học thuyết nền móng của ông: thuyết phản kháng tâm lý. Tuy nhiên, đóng góp của ông, không dừng lại ở đó. Nhiều năm sau này, Jack Brehm nghiên cứu toàn diện về ham muốn, xây dựng thêm hai học thuyết nữa: học thuyết về cường độ động lực và học thuyết về cường độ cảm xúc.
Born in 1928, Jack W. Brehm is one of the world’s most influential motivational psychologists. After graduating from Harvard, he completed his PhD dissertation at the University of Minnesota. Working under Leon Festinger, his dissertation was the first cognitive dissonance study to be published, which later formed the foundation for his cornerstone theory: psychological reactance theory. His contributions, however, did not end there. In his later years, Jack Brehm studied desire extensively, formulating two more theories: the theory of motivational intensity and the theory of emotion intensity.4
Sharon S. Brehm. Sharon S. Brehm
Sharon Brehm có đóng góp đáng kể vào thuyết phản kháng tâm lý, thường đồng hành cùng chồng, Jack Brehm, hợp tác trong nghiên cứu. Bà là đồng tác giả của cuốn Psychology Reactance: A Theory of Freedom and Control xuất bản năm 1981, và giúp mở rộng thuyết phản kháng sang lĩnh vực tâm lý học lâm sàng. Bà là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên ứng dụng thuyết phản kháng đặc biệt cho trẻ em, giúp mở rộng tính ứng dụng của học thuyết này cho nhiều nhóm tuổi khác nhau. Bản thân là một người phụ nữ có thành tựu, Sharon Brehm đảm nhiệm vị trí chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ năm 2007, nơi bà làm nỗ lực tăng số lượng thành viên của hiệp hội và khuyến khích sự quan tâm dành cho khoa học liên ngành.
Sharon Brehm made significant contributions to reactance theory, often working alongside her husband, Jack Brehm, to collaborate on research. She co-authored the 1981 book Psychological Reactance: A Theory of Freedom and Control and helped expand reactance theory to the field of clinical psychology.1 She was one of the first researchers to apply reactance theory specifically to children, helping to expand the theory’s applicability to various age groups.15 A high-achieving woman in her own right, Sharon Brehm served as president of the American Psychological Association (APA) in 2007, where she worked to increase APA membership and encourage interest in interdisciplinary science.
William R. Miller. William R. Miller
Miller ban đầu được công nhận vì công trình của ông trong phỏng vấn tạo động lực, nhưng đóng góp của ông cho các lĩnh vực động lực và thay đổi hành vi có giá trị trong việc mở rộng thuyết phản kháng tâm lý đến các bối cảnh tham vấn thực tiễn. Công trình của ông, vốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng sự tự chủ cá nhân, đã giúp định hình hiểu biết của chúng ta về các phản kháng tâm lý có thể ảnh hưởng lên hành vi trong những lĩnh vực như điều trị nghiện. Miller nhấn mạnh rằng tham vấn viên có thể lèo lái mức phản kháng cao lên hoặc thấp xuống dựa trên phong cách tham vấn – tránh né đối đầu trực tiếp hoặc truyền đi thông điệp thuyết phục, ngụ ý rằng mất tự do là điều cần thiết giúp giảm bớt phản kháng trong giao tiếp tham vấn. Ông khuyên rằng tham vấn viên nên trấn an khách hàng ngay từ lúc đầu rằng bất kỳ quyết định nào thay đổi hành vi đều nằm ở họ, nói rõ rằng họ tự do chọn lựa của họ không bị giới hạn.
Miller is primarily recognized for his work on motivational interviewing, but his contributions to the fields of motivation and behavior change were valuable in expanding reactance theory to practical counseling contexts. His work, which emphasized the importance of respecting individual autonomy, helped shape our understanding of how reactance can influence behavior in areas such as addiction treatment. Miller stressed that counselors can drive resistance levels up or down based on their counseling style—avoiding direct confrontations or persuasive messages that imply loss of freedom are essential for mitigating reactance in counseling conversations.16 He advised that counselors assure clients early in the conversation that any decision to change their behavior is entirely their own, making it clear that their freedom of choice is not being limited.

Câu hỏi thường gặp. FAQ
4 Thành phần chính của thuyết phản kháng tâm lý? What are the four elements of the reactance theory?
Bốn thành phần chính của thuyết phản kháng tâm lý – tự do chủ quan, đe dọa đến tự do, phản kháng và khôi phục tự do – mô tả cách chúng ta phản ứng lại với mối đe dọa ta nhận biết được lên sự tự do ta đang có và cách chúng ta nỗ lực lấy lại cảm giác tự do. Hãy cùng tìm hiểu kỹ hơn các thành tố này:
The four elements of reactance theory—perceived freedom, threat to freedom, reactance, and restoration of freedom—describe how individuals react to perceived freedom threats and how they work to restore their sense of freedom.1 Let’s look at each of these elements more closely:
– Tự do chủ quan: Nhận thức của một người về sự tự do. Thuyết phản kháng tâm lý cho rằng con người ta về cơ bản luôn có mong muốn tự chủ và tự do chọn lựa cái họ làm. Để một ai đó xuất hiện sự phản kháng, đầu tiên họ phải sở hữu một sự tự do trong hành động trước.
Perceived Freedom: An individual’s perception of freedom. Reactance theory suggests that people have a fundamental desire for autonomy and the freedom to choose what they do. In order for someone to experience reactance, they must first possess a freedom of action.
– Đe dọa đến tự do: Một mối đe dọa đến tự do xuất hiện khi ai đó nhận thấy tự do của mình bị hạn chế. Điều này có thể đến từ quy tắc, luật lệ, chính sách, hay thậm chí là các thông điệp thuyết phục hoặc áp lực xã hội. Trong bối cảnh thuyết phục, một ai đó cố thuyết phục bạn làm một điều gì đó bạn không muốn cũng được coi là một mối đe dọa đến tự do của bạn, ngay cả khi bạn vẫn hoàn toàn có quyền kiểm soát quyết định của mình.
Threat to Freedom: A freedom threat occurs when someone perceives that their freedom is being restricted. This could come from rules, regulations, policies, or even persuasive messages or social pressures. In the context of persuasion, someone attempting to convince you to do something you don’t want to do may be perceived as a threat to your freedom, even if you still have complete control over your decisions.
– Phản kháng: Để đáp lại sự hạn chế tự do hành vi, con người ta thường xuất hiện phản ứng cảm xúc như tức giận hoặc bực bội. Phản kháng chính là sự xuất hiện những cảm xúc này vốn khiến con người ta nỗ lực lấy lại cảm giác tự do và xuất hiện những suy nghĩ để biện minh cho sự phản kháng. Mức độ phản kháng của một người được xác định bởi một quá trình nhận thức giúp đánh giá nguồn lực và mức độ nghiêm trọng của hạn chế.
Reactance: In response to restricted behavioral freedom, people often experience emotional reactions such as anger or frustration. Reactance refers to these emotional experiences which drive people to restore their sense of freedom and generate thoughts to justify resistance. One’s level of reactance is determined by a cognitive process of evaluating the source and severity of the restriction.
– Lấy lại sự tự do: Thành tố cuối cùng của phản kháng tâm lý, lấy lại tự do bao gồm những hành động con người ta thực hiện để đáp lại kích thích phản kháng. Ví dụ, một người có thể không tuân thủ và làm chính xác cái họ bị cấm làm – đây được gọi là khôi phục tự do tự trực tiếp. Họ cũng có thể cố lấy lại kiểm soát theo những cách thức ít trực tiếp hơn, có thể là bằng cách khẳng định lựa chọn của mình, thể hiện sự tự do trong một lĩnh vực khác, hoặc hỗ trợ nhiều hơn cho lựa chọn đang bị đe dọa.
Restoration of Freedom: The final component of reactance, restoration of freedom comprises the actions people take in response to reactance arousal. For instance, individuals might resist compliance and do exactly what they were prohibited from doing—this is called direct restoration. They might also try to regain control in less direct ways, perhaps by asserting their choices, exercising freedom in another area, or showing greater support for the option that is being threatened.
Ví dụ về phản kháng tâm lý? What is an example of reactance?
Một ví dụ thường gặp về phản kháng tâm lý là một đứa trẻ càng ăn nhiều kẹo hết mức có thể đơn giản chỉ vì cha mẹ nói chúng không được làm như vậy. Đứa trẻ cảm thấy tự do của mình bị hạn chế, vốn khơi lên ham muốn lấy lại nó và khẳng định cự tử chủ của bản thân. Nếu bạn dành thời gian bên con trẻ, bạn hẳn đã thấy hành vi này trong thực tế vô số lần.
A common example of psychological reactance is a child eating as much candy as they can simply because their parents told them not to. The child feels that their freedom is being limited, which triggers a strong desire to restore it and assert their autonomy. If you spend any time around children, you’ve likely seen this behavior in action plenty of times.

Như ta đều đã thấy, người lớn cũng không “miễn nhiễm” với những phản ứng kiểu này khi nhận thấy tự do của mình bị đe dọa. Đại dịch COVID-19 cho thấy nhiều ví dụ cho thấy sự phản kháng của mọi người khi đáp lại các lệnh hạn chế và chỉ dẫn giúp kiểm soát virus, như đeo khẩu trang và chích ngừa. Ngay cả tình trạng thiếu giấy vệ sinh nổi đình đám cũng có thể là do phản kháng tâm lý. Khi tin tức lan truyền các lệnh hạn chế phong tỏa và các vấn đề về chuỗi cung ứng, nhiều người quan ngại sợ mình không thể mua được các nhu yếu phẩm. Cảm giác sự tự do tiếp cận các nhu yếu phẩm bị xâm phạm, con người ta bắt đầu có hành vi mua sắm phi lý, được thúc đẩy bởi nhu cầu muốn lấy lại kiểm soát với sự tự do của mình – mặc cho thông điệp kêu gọi mọi người không mua sắm hoảng loạn. Hành động tích trữ giấy vệ sinh có thể được xem là một cách mà mọi người khẳng định sự tự chủ của mình với những hạn chế đặt ra trong đại dịch. Việc quan sát các hành vi xã hội khi đáp lại các luật lệ, quy định hoặc khuyến nghị mới, chính là một cách để thấy đực thuyết phản kháng tâm lý trong thế giới thực.
As we’ve seen, adults are not exempt from such reactions to perceived freedom threats. The COVID-19 pandemic presented several examples of people displaying reactance in response to restrictions and guidelines aimed at controlling the virus, like mask-wearing and vaccinations.17 Even the infamous toilet paper shortage can in part be attributed to reactance theory. As news spread about lockdown restrictions and supply chain issues, many people became concerned about their ability to purchase essential items. Feeling that their freedom to access necessary items was being compromised, people began engaging in irrational buying behaviors, driven by a need to regain control over their freedom—despite messaging urging people not to engage in panic buying. The act of stockpiling toilet paper could be seen as a way for individuals to assert their autonomy in the face of limitations imposed by the pandemic. Observing social behavior in response to new rules, regulations, or recommendations is a great way to see reactance theory in the real world.
Phản kháng tâm lý là tốt hay xấu? Is reactance good or bad?
Phản kháng tâm lý vốn không tốt cũng không xấu nhưng lại có ưu điểm và bất lợi cho từng cá nhân và rộng ra là cả xã hội. Ở cấp độ cá nhân, phản kháng có thể giúp con người ta tránh được sự thao túng, giúp cá nhân có sức mạnh để khẳng định sự tự chủ của mình và đấu tranh cho quyền và sự tự do của mình. Không may thay, điều này thường đưa đến những hành vi có hại – ví dụ, khi con người ta phản kháng những đề xuất trong các thông điệp giúp thúc đẩy sức khỏe vốn có lợi cho sức khỏe cá nhân. Phản ứng tự động kiểu “Anh không thể nói tôi làm cái này cái kia được” này có thể khiến bạn không muốn làm thứ gì đó ngay cả khi nó khớp với các mục tiêu của bạn. Bạn đã từng tính đi rửa chén hoặc chạy bộ, xong rồi lại không còn muốn làm nữa vì ai đó đề xuất bạn làm chúng hoặc khăng khăng bạn nên làm chúng chưa? Mong muốn phản kháng lại áp lực từ bên ngoài của chúng ta có thể làm lu mờ ý định muốn làm một thứ gì đó mà ban đầu đúng kiểu là lựa chọn của chính cá nhân bạn. Phản kháng có thể khiến ta cảm thấy tức giận, bực bội, hoặc khó chịu với mọi người, vốn có thể đưa đến xung đột trong các mối quan hệ.
Psychological reactance is neither inherently good nor bad but has advantages and disadvantages for both individuals and society at large. On an individual level, reactance may help people avoid manipulation, empowering individuals to assert their autonomy and advocate for their rights and freedoms. Unfortunately, this often results in harmful behaviors—for example, when people resist suggestions made in promotional health messages that would be beneficial for their individual health.7 That automatic reaction of “you can’t tell me what to do” can make you not want to do something even if it aligns with your goals. Have you ever planned to do the dishes or go on a run, then no longer wanted to do it when someone else suggested it or insisted that you should? Our desire to resist external pressure can overshadow our desire to do something that initially felt like a personal choice. Reactance can also make us feel angry, irritated, or frustrated with others, which can lead to conflict in our relationships.
Ở cấp độ xã hội, phản kháng nhìn chung là đưa đến hệ quả tiêu cực. Nó có thể khiến con người ta phản kháng các thông điệp giúp bảo vệ sức khỏe vốn khiến mọi người nhận thức thấy mối đe dọa với sự tự do của mình nhưng lại cực kỳ thiết yếu với sức khỏe của cả tập thể. Nó cũng góp phần vào sự lan truyền của các thông tin sai lệch, khi con người ta tìm kiếm thông tin nào khớp với phản ứng kiểu phản kháng của bản thân. Trong suốt đại dịch chẳng hạn, một số người tim kiếm các thông tin hạ thấp mức độ nghiêm trọng của virus hoặc nghi ngờ về tính hiệu quả của vaccine. Không có gì đáng ngạc nhiên là điều này có thể góp phần gây phân cực xã hội, khi con người ta thường xuyên gắn mình vào các nhóm phản đối chính quyền áp đặt các hạn chế đối với một số quyền tự do cụ thể.
On a societal level, reactance generally results in negative outcomes. It can cause people to resist persuasive health messages that invoke freedom threat perceptions but are essential to our collective well-being. It also contributes to the spread of misinformation, as people seek out information that aligns with their reactant response. During the pandemic, for example, some people sought information that downplayed the virus’s severity or questioned the vaccine’s efficacy. Unsurprisingly, this can contribute to social polarization, as people frequently align themselves with groups that oppose authorities imposing restrictions on particular freedoms.

Làm sao để giảm thiểu sự phản kháng? How can you mitigate reactance?
Tôn trọng sự tự chủ cá nhân chính là chìa khóa giúp giảm bớt sự phản kháng và vượt qua nó khi khuyến khích mọi người đưa ra lựa chọn tốt hơn. Có một vài cách để làm được điều đó:
Respecting people’s individual autonomy is key to mitigating reactance and overcoming resistance when encouraging people to make better choices. There are several ways to do this:
– Cung cấp chọn lựa: Cung cấp một số lựa chọn hoặc phương án thay thế và các thông điệp đóng khung theo hướng cho con người ta cảm giác mình có sự lựa chọn và kiểm soát với các quyết định của mình. Hãy cố sử dụng ngôn ngữ gợi mở lựa chọn trong thông điệp bạn đưa ra giúp con người ta có được lựa chọn, như “hãy thử những phương pháp khác nhau và xem xem cái nào là phù hợp với bạn nhất.”
Provision of Choice: Provide several options or alternatives and frame messages in a way that gives people a sense of choice and control over their decisions.7 Try to use choice-enhancing language in your messaging that gives people options, like “try these different approaches and see what works best for you.”

– Chọn người truyền tải thông điệp có liên quan: Con người ta có thể phản ứng mạnh mẽ hơn với các nhân vật thực sự có quyền lực hạn chế sự tự do của họ. Thay vì truyền tải thông điệp qua những cá nhân này, hãy chọn những người truyền tải có liên quan và ít mang tính đe dọa hơn. Giao tiếp đồng đẳng là phương án lý tưởng giúp định hình trải nghiệm chủ quan của thông điệp theo cách thức phù hợp với nhận thức của người nghe về sự tự chủ.
Choose Relatable Messengers: People may feel more strongly in response to authority figures who have real power to restrict their freedoms. Instead of delivering messages through these individuals, choose relatable and unthreatening messengers. Peer-to-peer communication is ideal for shaping the subjective experience of the message in a way that aligns with the listener’s perception of autonomy.
– Nhấn mạnh sự hợp tác: Việc mời mọi người chia sẻ ý kiến và quan điểm là một cách tuyệt vời để giảm bớt sự phản kháng. Hãy nhấn mạnh với người bạn đang nói chuyện rằng họ có sự tự do về thái độ – tự do có niềm tin và ý thích riêng. Hãy hướng đến đối thoại giống như một quá trình tương tác hơn là một chỉ thị rõ ràng.
Emphasize Collaboration: Inviting people to share their ideas and opinions is another great way to reduce reactance. Emphasize that the person you’re talking to has attitudinal freedom—the freedom to hold their own beliefs and preferences. Aim for dialogue that feels more like an interactive, collaborative process rather than an explicit directive.
– Khuyến khích quan điểm: Việc lấy quan điểm của người truyền tải thông điệp cũng giúp giảm bớt sự phản kháng vì nó khuyến khích con người ta bỏ qua phản ứng phòng thủ tự nhiên sang một bên và cân nhắc quan điểm và động lực của người đưa ra đề xuất hoặc yêu cầu. Nếu bạn đang cố hiểu một người thể hiện sự phản kháng, hãy thử trình bày các góc nhìn thay thế hoặc nhấn mạnh mục tiêu chung.
Encourage Perspective-Taking: Taking the perspective of the messenger can help reduce reactance because it encourages people to step aside from their knee-jerk defensive reaction and consider the viewpoints and motivations of the person making the request or suggestion.18 If you are trying to reason with someone exhibiting reactance, try presenting alternative perspectives or emphasizing your shared goals.
Ngoài những gợi ý này, chúng ta có thể thấy được nhiều điều giúp giảm thiếu phản kháng bằng cách quan sát những người đến từ những nền văn hóa khác nhau. Nghiên cứu cho rằng văn hóa cá nhân và văn hóa tập thể đều có những mong đợi khác nhau về sự kiểm soát và tính tự chủ, và vì vậy phản ứng với các mối đe dọa với tự do cũng khác. Người đến từ các nền văn hóa cá nhân sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi các mối đe dọa đến tự do cá nhân của mình hơn, trong khi người đến từ các nền văn hóa tập thể lại dễ bị ảnh hưởng bởi các mối đe dọa ảnh hưởng lên bản thân họ và nhóm của họ. Việc hiểu được những khác biệt văn hóa này chính là chìa khóa nếu bạn muốn giảm bớt sự phản kháng tâm lý khi truyền tải thông điệp mang tính thuyết phục hay giới thiệu các chính sách mới.
Beyond these tips, we can learn a lot about mitigating reactance theory by looking at people from differing cultural backgrounds. Research suggests that individualist and collectivist cultures hold different expectations of control and autonomy, and therefore react to freedom threats differently.19 People from individualist cultures are more affected by threats to their individual freedoms, while collectivists are more affected by threats that affect themselves and their group. Understanding these cultural differences is key if you want to reduce reactance when delivering persuasive messaging or introducing new policies.
Hệ quả. Consequences
Thuyết phản kháng tâm lý được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu về hiện tượng đóng khung và hành vi người tiêu dùng. Nó cũng đứng sau các chiến thuật thuyết phục phổ biến, tâm lý ngược.
Reactance theory is implicated in several interesting research areas, including framing studies and consumer behavior. It’s also behind the popular persuasion tactic, reverse psychology.
Tâm lý ngược. Reverse Psychology
Một trong những cách phổ biến nhất ta có thể thấy thuyết phản kháng tâm lý là trong chiến lược tâm lý ngược. Một người có thể sử dụng chiến lược này để lừa đối tượng đích tuân thủ mong muốn của họ bằng cách nói ra điều ngược lại với mong muốn thật về một chủ đề. Ví dụ, nếu một người mẹ muốn đứa con tuổi teen của mình đọc một cuốn sách nhất định, bà có thể nói nó đừng đọc nó. Vì cô cậu bé này cảm thấy tự do lựa chọn của mình bị đe dọa, chúng có thể sẽ đọc cuốn sách. Mục đích thật sự của người mẹ sẽ đạt được, trong khi đứa con vẫn tin rằng đọc sách là lựa chọn của bản thân mình.
One of the most common ways we see reactance theory in play is reverse psychology. An individual may use this strategy to trick a target into complying with their wishes by stating the opposite of their true position on a subject.5 For instance, if a mother wants her rebellious teenager to read a certain book, she may tell them not to read it. As the teenager feels as if their freedom of choice is being threatened, they may read the book. The mother’s intended purpose would be achieved, while the teenager would believe that it was their own choice to read the book.
Mặc dù văn hóa đại chúng thích dùng từ “tâm lý ngược” khá thường xuyên, nhưng người ta tranh luận không biết liệu khái niệm này có giá trị về khoa học hay không. Một nghiên cứu của McDonals, Nail and Harper cho thấy có 72% tham dự viên có thể nhớ lại một lần mình sử dụng tâm lý ngược để nhận được sự an ủi của người khác, trong khi 38% nhớ có lần mình đã sử dụng nó để thuyết phục người khác làm một điều gì đó. Dù có hiệu quả hay không, thì tâm lý ngược chắc chắn vẫn là chiến lược thuyết phục được sử dụng phổ biến, đặc biệt là khi chủ thể cần sự an ủi cho những hành vi của bản thân.
While pop culture likes to use the term “reverse psychology” fairly often, it is debated if the concept holds any scientific validity. A study by MacDonals, Nail and Harper showed that 72% of the participants were able to recall a time when they used reverse psychology to get reassurance from a person, while 38% recalled a time when they used it to persuade someone to do something.5 Whether effective or not, reverse psychology is surely a commonly used persuasion tactic, especially prevalent when individuals need reassurance about their own actions.
Đóng khung thông điệp. Message Framing
Một lĩnh vực nghiên cứu khác được đúc kết từ thuyết phản kháng tâm lý là đóng khung thông điệp và thuyết triển vọng. Thuyết triển vọng cho rằng con người ta dễ liều lĩnh hơn khi thông điệp được đóng khung theo hướng cái thu được, và ít làm như vậy hơn khi chúng bị đóng khung theo hướng cái mất đi. Trong một nghiên cứu năm 2015, người ta cho rằng thuyết triển vọng có thể là hệ quả gián tiếp của thuyết phản kháng tâm lý. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra thông điệp được đóng khung là cái bị mất có thể khơi dậy cảm giác tội lỗi, điều này có liên đới tích cực với nhận thức về sự tự do bị đe dọa, vì vậy gợi ra các hành vi liên quan đến thuyết phản kháng. Các nhà nghiên cứu cũng kết luận rằng việc sử dụng thông điệp theo hướng “cái đạt được” có thể hiệu quả hơn, vì nó có liên đới đến kích thích cảm giác hạnh phúc và ít hành vi phản kháng hơn.
Another area of research that has drawn intensively from psychological reactance theory is message framing and prospect theory. Prospect theory suggests that people are more likely to take risks when messages are framed in terms of gains, and less likely to do so when they are framed in terms of losses.6 In a 2015 study, it was postulated that prospect theory may be an indirect consequence of reactance theory. Researchers found that messages framed in terms of loss can arouse guilt, which is positively associated with perceptions of threatened freedom, thus eliciting behaviours related to the reactance theory.6 The researchers concluded that using gain-frame messaging may be more effective, since it is associated with happiness arousal and less reactance-related behaviour.6

Nghiên cứu về đóng khung thông điệp đã trở nên cực kỳ hữu ích trong truyền thông và thuyết phục sức khỏe. Qua nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã xác định được một số đặc điểm thông điệp – ngoài thông điệp đóng khung vào cái được – vốn có thể giảm bớt sự phản kháng và gia tăng tuân thủ. Ví dụ, các thông điệp rõ ràng, chi tiết hành động mà mọi người nên làm thường được xem là đe dọa sự tự do. Việc bao gồm một phần phụ chú về phục hồi, nhắc nhở mọi người cuối cùng quyết định vẫn là ở họ chọn theo hay không theo lời khuyên, sẽ làm giảm bớt đe dọa lên sự tự do. Việc cung cấp lựa chọn cũng có thể giảm bớt sự phản kháng. Thông điệp nào gợi lên được sự thấu cảm cũng khá hiệu quả giúp giảm thiểu sự kháng cự và tăng thuyết phục.
Studies on message framing have become especially useful in health communication and persuasion. Over the years, researchers have identified several message characteristics – other than gain-frame messaging – that can reduce reactance and increase compliance with messages. For instance, explicit messages which detail actions that people should take are often perceived as freedom threatening.7 Including a restorative postscript, reminding people that it is finally their choice to follow or not follow the advice, reduces the threat to freedom.7 Providing others with choices can also reduce reactance. Messages that elicit empathy from readers are also effective in mitigating reactance and increasing persuasion.7
Hành vi người tiêu dùng. Consumer Behavior
Cuối cùng, hành vi người tiêu dùng đã được tìm hiểu khá đáng kể nhờ thuyết phản kháng tâm lý. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi sản phẩm không sẵn có hoặc lựa chọn bị loại bỏ, thì chúng sẽ được săn lùng. Trong một thí nghiệm thực địa năm 1973, Mazis, Settle và Leslie đã so sánh quan điểm của các cư dân tại Miami, nơi chất tẩy rửa phốt phát bị cấm, và các cư dân ở Tampa, nơi nó không bị cấm. Nghiên cứu phát hiện ra rằng cư dân Miamo ưa chuộng chất tẩy rửa phốt phát hơn cư dân Tampa. Ngoài ra, khách hàng cũng ít mua sản phẩm hơn khi các ưu đãi khuyến mãi đặt ra hạn chế về số lượng hàng hóa họ có thể mua. Điều quan trọng là người tiêu dùng phải cảm thấy tự do chọn lựa của mình vẫn còn nguyên khi đưa ra các quyết định mua sắm.
Finally, consumer behaviour has gained some remarkable insights from reactance theory. Several studies have shown that when products are unavailable or choices are eliminated, the unavailable products become more desirable. In a 1973 field experiment, Mazis, Settle and Leslie compared opinions of residents in Miami, where phosphate detergents were banned, and those in Tampa, where phosphate detergents weren’t banned. It was found that Miami residents favoured the phosphate detergents more than Tampa residents.8 Further, customers are less likely to buy products when promotional offers place tight restrictions on the number of items they can buy.8 It is important for consumers to feel as though their freedom of choice is intact while making buying decisions.
Ý kiến trái chiều. Controversies
Một số lý giải về phán kháng tâm lý đã hiểu sai nghĩa của từ “tự do”. Ví dụ, trong một bài báo năm 1975, Dowd tranh luận rằng những ý tưởng như quan hệ họ hàng hoặc duy trì các mối quan hệ có qua có lại ít xuất hiện ít hơn trong các nhóm xã hội có học vấn tố, có thu nhập cao, trung lưu so với các nhóm xã hội thuộc tầng lớp lao động vì những “cân nhắc trừu tượng” về tự do cá nhân được coi trọng hơn ở nhóm trung lưu. Tuy nhiên, bằng cách có nghĩa vụ phải đáp trả lại một ơn huệ, một người thuộc tầng lớp trung lưu có thể cảm thấy tự do của mình bị đe dọa, và rốt cuộc có thể không trả ơn. Vì vậy, các nhóm xã hội trung lưu có thể xuất hiện phản kháng, trong khi các nhóm thuộc tầng lớp lao động lại ít xuất hiện hơn vì họ có xu hướng duy trì tình bạn, sự trung thành và quan hệ họ hàng.
Some interpretations of psychological reactance have misunderstood what is meant by “freedom.” For example, in a 1975 paper, Dowd argues that ideas such as kinship or maintaining reciprocal relationships are less prevalent among educated, high income, middle class societies than in working class ones because “abstract considerations” of personal freedom are more valued in middle classes.9 In essence, social norms dictate that a person who has received a favour should also return the favour. However, by being obligated to return a favour, a middle class individual may feel their freedom threatened, and may end up not giving back. Thus, middle class societies may exhibit more reactance, while working class societies may exhibit less as they are more inclined to maintain friendship, loyalty, and kinship.9
Không may thay, phân tích của Dowd, cũng giống như một số các công trình quan trọng khác, lại không nắm bắt được ý nghĩa ban đầu của “sự tự do”. Brehm khẳng định rằng học tuyết của ông không dựa trên giả định về sự tự do chung chung, như tự do chọn lựa hay tính tự lập, mà dựa trên những tự do cụ thể, như chọn lựa giữa một bộ phim nay hay bộ phim khác. Tự do cụ thể kiểu này không đe dọa những quyền tự do cụ thể khác, nó có thể quan trọng hơn hoặc ít quan trọng hơn cá quyền tự do khác, nó có thể được kết nối với các quyền tự do cụ thể khác, và độ lớn có thể được đo lường. Vì vậy, “tự do” được tính là danh từ đếm được, thay vì không khái niệm trừu tượng. Điều này là một giải thích quan trọng cần cân nhắc khi tìm hiểu phản kháng tâm lý.
Unfortunately, Dowd’s analysis, like a few other critical works, does not grasp the intended meaning of “freedom.” Brehm asserts that his theory is not based on the assumption of general freedoms, like freedom of choice or independence, but rather on specific freedoms, like a choice between one film and another.10 This specific freedom does not threaten other specific freedoms, it may be more or less important than other freedoms, it may be connected to other specific freedoms, and its magnitude may be measured.10 Hence, “freedom” is treated more as a countable noun, rather than an abstract concept. This is an important clarification to consider with regards to psychological reactance.
Nghiên cứu trường hợp. Case Studies
Kháng cự tâm lý và sự phát triển của trẻ. Child Development and Psychological Reactance
Nhiều người nói rằng cần đến cả một ngôi làng để nuôi dạy một đứa trẻ. Sau cùng thì, việc chăm lo những nhu cầu của chúng, đảm bảo chúng không bị thương, và cho phép chúng lớn lên và trở thành một con người đàng hoàng là rất khó khăn và bao gồm nhiều nhiệm vụ tốn thời gian. Để đạt được những mục tiêu này, cha mẹ cần tập một mức độ kiểm soát nhất định với con trẻ. Tuy nhiên, kiểm soát từ cha mẹ có nhiều khía cạnh khác nhau, một số có thể khá bất lợi với trẻ, bao gồm kiểm soát tâm lý, gây áp lực, ép buộc hoặc xâm phạm không gian riêng. Điều quan trọng là ta cần hiểu được cách thực hiện quyền cha mẹ vì mục tiêu tích cực, thay vì tiêu cực, đặc biệt là với thanh thiếu niên vì nhóm này luôn muốn được tự do và có thể phản ứng lại với sự kiểm soát của cha mẹ bằng tâm lý phản kháng.
People say that it takes a village to raise a child. After all, taking care of their needs, making sure they don’t get hurt, and allowing them to grow and become their own person are difficult and time consuming tasks. To achieve these goals, parents must exercise a certain degree of control over their children. However, there are multiple dimensions to parental control, some of which can be detrimental to children, including psychological control, pressure, coercion, or intrusion. 11 It is important to understand how parental authority may be exercised for a positive, rather than negative end, especially with adolescents who want to have their freedom and may respond to control with psychological reactance.

Năm 2015, Van Petegem và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu về phong cách nuôi dạy con ảnh hưởng lên sự nổi loạn ở thanh thiếu niên. Hơn 200 thanh thiếu niên đã được giới thiệu tình huống giả định nơi cha mẹ yêu cầu chúng phải học hành chăm chỉ hơn. Yêu cầu này được đóng khung hoặc theo một phong cách kiểm soát, hoặc trung lập hoặc hỗ trợ quyền tự chủ ở trẻ. Kết quả nhấn mạnh rằng khi yêu cầu được thực hiện theo hướng kiểm soát, trẻ cho thấy nhiều sự bực dọc, áp lực và phản kháng hơn. Hệ quả là, chúng hành xử theo một cách thức ngược lại với cái chúng bị yêu cầu và không chịu học. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng được kiểm tra về tính cách phản kháng, và phát hiện ra rằng thanh thiếu niên nào có hơi hướng phản kháng cao hơn sẽ dể hiểu yêu cầu của cha mẹ thành một những mối đe dọa với sự tự do chúng có mặc cho thông điệp được truyền tải thế nào. Đúng như dự đoán, chúng sẽ dễ hành xử theo cách đối nghịch hơn.
In 2015, Van Petegem and colleagues did a study on how parenting styles impact teenage rebelliousness. Over 200 teenage adolescents were given hypothetical vignettes in which parents requested them to study harder.11 This request was framed either in a controlling, neutral, or autonomy-supportive style. Results highlighted that when requests were asked in a controlling manner, teenagers expressed more frustration, pressure, and reactance. Consequently, they acted in a manner opposite to what was asked and did not study.11 In addition to this, they also tested for trait reactance, and found that teenagers who were more reactance oriented were more likely to interpret parental requests as threats to their freedom regardless of how the requests were conveyed. As would be expected, they were more likely to act in an oppositional manner.11
Các kết quả này khá nhất quán ở các nhóm tuổi vị thành niên, giới tính, cộng đồng và các khía cạnh nuôi dạy. Điều này có nghĩa là, thường thì, nuôi con kiểu kiểm soát sẽ gây áp lực lên con trẻ. Ngoài ra, sự phản kháng cũng được phát hiện là có liên quan đến hành vi bộc phát ra bên ngoài, như vấn đề ở sự tập trung, hung hăng, tăng động, cũng như các hành vi thu vào bên trong, như co rụt khỏi xã hội, lo âu và trầm cảm. Cách nuôi dạy có lợi hơn cho sự phát triển của trẻ là một phong cách hỗ trợ sự tự chủ, nơi con trẻ được tham gia ra quyết định nhiều hơn cho bản thân, trong khi vẫn liên tục có được sự hỗ trợ từ cha mẹ.
These results were consistent across the adolescent ages, gender, community, and other parental dimensions. This means that, more often than not, controlling parental styles result in pressure on teenagers. Furthermore, reactance was also found to be associated with externalizing behaviours, like attentional problems, aggression, hyperactivity, as well as internalizing behaviours, like social withdrawal, anxiety, and depression.12 A style more conducive to healthy child development is an autonomy-supportive style, where children are more involved in making decisions for themselves, while simultaneously having the support of the parent.13

Kháng cự tâm lý và Trị liệu. Therapy and Psychological Reactance
Kháng sự tâm lý đã được nghiên cứu trong bối cảnh tâm lý trị liệu trong nhiều năm. Năm 1973, Devine và Ferland đã thực hiện một trong những nghiên cứu đầu tiên về tác động của giọng nói lên điều trị. Họ tuyển sinh viên cực kỳ sợ rắn tham gia vào nghiên cứu. Họ chia tham dự viên thành ba nhóm, mỗi nhóm sẽ nhận được trị liệu cho nỗi sợ của họ. Hai phần ba sinh viên được cho xem video về bốn loại trị liệu khác nhau và được yêu cầu đánh giá mức độ yêu thích cho từng loại. Một nửa nhóm này được chỉ định liệu pháp mà họ thích nhất, nửa còn lại được chỉ định liệu pháp họ ít thích nhất. Một phần ba nhóm còn lại được chỉ định ngẫu nhiên vào một liệu pháp.
Psychological reactance has been studied in the context of clinical psychology for years. In 1973, Devine and Ferland conducted one of the first studies on effects of voice on treatment, where. They recruited students who were extremely afraid of snakes. They divided them into three groups, each of which would receive therapeutic treatment for their crippling fear.1 Two-thirds of the students were shown videos of four different types of therapy and were asked to mark their preference for each type. Half of this group was assigned to the therapy they most preferred, whereas the other half was assigned to the one they least preferred. The remaining third was randomly assigned to a therapy.1
Sau khi tiếp nhận hai phiên trị liệu mỗi phiên 1 tiếng, thì mức độ sợ hãi của tham dự viên sẽ được nhóm nghiên cứu đánh giá. Những người được chỉ định liệu pháp mình thích cho thấy sự cải thiện đáng kể trong nỗi sợ rắn so với những người được chỉ định ngẫu nhiên hoặc được chỉ định liệu pháp mình ít thích nhất. Điều này có thể là vì ban đầu tất cả đều được hỏi mức độ yêu thích, sau đó những người bị chỉ định liệu pháp mình ít nhất nhất đã xuất hiện mối đe dọa với sự tự do chọn lựa của mình, đưa đến sự bực bội và kháng cự tiềm ẩn với trị liệu. Những phát hiện này nhấn mạnh tác động của việc cung cấp cho khách hàng tự do lựa chọn hình thức trị liệu cho bản thân họ. Tuy nhiên, mặc cho kết quả này được lặp lại trong nhiều nghiên cứu khác, ta nên cẩn trọng cân nhắc kết quả này do thiếu các biện pháp đo lường cơ bản thích hợp trong hầu hết các nghiên cứu.
After receiving two 1-hour sessions of therapy, each participant’s level of fear was assessed. Those who were assigned to their preferred therapy showed substantial improvement with their snake fear compared to those who were randomly assigned or assigned to their least preferred one. This may be because everyone was first asked to state their preference, those in the least-preferred condition may have experienced a threat to their freedom of choice, leading to potential frustration and reactance to therapy.1 These findings emphasize the impact of providing clients with the freedom to choose their form of therapy. However, despite these results replicated in other studies, they should be taken with a grain of salt due to lack of proper baseline measures present in most studies.
Tham khảo. Sources
Brehm, S. S., & Brehm, J. W. (2013). Psychological reactance: A theory of freedom and control. Academic Press.
Rosenberg, B. D., & Siegel, J. T. (2018). A 50-year review of psychological reactance theory: Do not read this article. Motivation Science, 4(4), 281.
Cherry, K. (2020). Cognitive Dissonance and Ways to Resolve It. Verywell Mind. https://www.verywellmind.com/what-is-cognitive-dissonance-2795012.
Society for Personality and Social Psychology. (n.d.). Jack W. Brehm. SPSP. https://spsp.org/awards/heritage-wall-of-fame/brehm.
MacDonald, G., Nail, P. R., & Harper, J. R. (2011). Do people use reverse psychology? An exploration of strategic self-anticonformity. Social Influence, 6(1), 1-14.
Quick, B. L., Kam, J. A., Morgan, S. E., Montero Liberona, C. A., & Smith, R. A. (2015). Prospect theory, discrete emotions, and freedom threats: An extension of psychological reactance theory. Journal of Communication, 65(1), 40-61.
Reynolds-Tylus, T. (2019). Psychological reactance and persuasive health communication: a review of the literature. Frontiers in Communication, 4, 56.
Lessne, G., & Venkatesan, M. (1989). Reactance theory in consumer research: the past, present and future. ACR North American Advances.
Dowd, J. J. (1975). Distributive Justice and Psychological Reactance: A Convergence of Homans and Brehm. Pacific Sociological Review, 18(4), 421-441.
Brehm, J. W. (1989). Psychological reactance: Theory and applications. ACR North American Advances.
Van Petegem, S., Soenens, B., Vansteenkiste, M., & Beyers, W. (2015). Rebels with a cause? Adolescent defiance from the perspective of reactance theory and self‐determination theory. Child Development, 86(3), 903-918.
Willner, C. J., Gatzke-Kopp, L. M., & Bray, B. C. (2016). The dynamics of internalizing and externalizing comorbidity across the early school years. Development and psychopathology, 28(4pt1), 1033-1052.
Shenfield, T. (2019, September 19). What is Autonomy Supportive Parenting and How to Practice it. Child Psychology Resources by Dr. Tali Shenfield. https://www.psy-ed.com/wpblog/autonomy-supportive-parenting/.
Prospect theory. BehavioralEconomics.com | The BE Hub. (2020, October 14). https://www.behavioraleconomics.com/resources/mini-encyclopedia-of-be/prospect-theory/.
Brehm, S. S., & Weinraub, M. (1977). Physical barriers and psychological reactance: 2-yr-olds’ responses to threats to freedom. Journal of Personality and Social Psychology, 35(11), 830–836. https://doi.org/10.1037/0022-3514.35.11.830
Miller, W. R., & Rollnick, S. (1991). Motivational interviewing: Preparing people to change addictive behavior. The Guilford Press.
Kim, J., Park, J., Chan, R. Y. K., & Marshall, R. (2023). Reactance theory, freedom seeking, protesting, and other COVID-19 behaviors. In M. K. Miller (Ed.), The social science of the COVID-19 pandemic: A call to action for researchers. Oxford University Press. https://doi.org/10.1093/oso/9780197615133.003.0008
Steindl, C. and Jonas, E. (2012) What Reasons Might the Other One Have?—Perspective Taking to Reduce Psychological Reactance in Individualists and Collectivists. Psychology, 3, 1153-1160. doi: 10.4236/psych.2012.312A170
Steindl, C., Jonas, E., Sittenthaler, S., Traut-Mattausch, E., & Greenberg, J. (2015). Understanding Psychological Reactance: New Developments and Findings. Zeitschrift Fur Psychologie, 223(4), 205-214. https://doi.org/10.1027/2151-2604/a000222
Nguồn: https://thedecisionlab.com/reference-guide/psychology/reactance-theory
Như Trang.