Bạn đã bao giờ toàn tâm toàn ý, bỏ mặc mọi thứ để chìm đắm trong một công việc nào đó chưa?
Have you ever been completely and utterly immersed in a task?
Quên đi thế giới ngoài kia, chỉ tập trung vào quá trình và những gì thực sự đang diễn ra ngay khoảnh khắc đó?
Oblivious to the outside world, focused only on your own progress and what’s going on right here and now?
Có lẽ bạn đã đang làm một điều gì đó bạn yêu thích, như chơi nhạc hoặc một môn thể thao nào đó, trước khi nhận ra rằng thời gian đã hoàn toàn trôi qua mà bạn không để ý?

Maybe you’ve been doing something you love, like playing music or a certain sport, before realizing that time has totally passed you by?
Nếu câu trả lời của bạn là có cho bất kỳ câu hỏi nào ở trên thì, khả năng cao là bạn đã ở trong một trạng thái gọi là “Dòng chảy tâm lý”.
If you’ve answered yes to any of these questions, it’s likely that you’ve been experiencing a state of Flow.
Dòng chảy tâm lý hay dòng chảy tinh thần là một trong những trạng thái tồn tại cực kỳ thú vị, nó gói ghém chúng ta lại trong thời khắc hiện tại, và giúp ta trở nên sáng tạo, năng suất và hạnh phúc hơn. Trong bài viết này bạn sẽ tìm được một số thông tin cơ bản về khái niệm “Dòng chảy tâm lý”, tác động tích cực, và những cách ta có thể ứng dụng nó lên cá nhân và nhóm.
Flow is one of life’s highly enjoyable states of being, wrapping us entirely in the present, and helping us be more creative, productive, and happy. Here you’ll find some information on the background of the Flow concept, its significant role in positivity, and its implications both for individuals and groups.
Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu những cách đo lường dòng chảy tâm lý khác nhau, cũng như những hoạt động và cách giúp thúc đẩy “dòng chảy” của chính bạn.
We’ll look at the different ways of how Flow can be measured, as well as some activities and ways to trigger your own Flow state.
Dòng chảy tâm lý là gì và ý nghĩa của nó? What is the Concept and Meaning of Flow?
Dòng chảy tâm lý thể hiện trạng thái tinh thần tích cực khi con người ta hoàn toàn bị đắm chìm, tập trung và tham gia vào những thứ mình đang làm vào một thời điểm nào đó, cũng như tận hưởng được niềm hứng khởi từ việc tham gia vào hoạt động này. Có lẽ trạng thái dòng chảy tâm lý, tương tự với quan niệm “tập trung cao độ”, được mô tả rõ nhất bởi một trong những tham dự viên tham gia vào những giai đoạn đầu của “Nghiên cứu dòng chảy tâm lý” (Csikszentmihalyi và Csikszentmihalyi, 1988: 195).
Psychological Flow captures the positive mental state of being completely absorbed, focused, and involved in your activities at a certain point in time, as well as deriving enjoyment from being engaged in that activity. Perhaps the Flow state, colloquially termed being ‘in the zone’, is best described by one of the participants interviewed in the earliest stages of ‘Flow research’ (Csikszentmihalyi and Csikszentmihalyi, 1988: 195):
“Tâm trí của tôi không lang thang. Tôi chủ không nghĩ về một thứ nào khác. Tôi toàn tâm toàn ý tập trung vào cái tôi đang làm. Cơ thể tôi rất tốt. Hình như tôi không còn nghe thấy gì nữa. Thế giới như tách khỏi tôi. Tôi ít bận tâm hơn đến bản thân và những vấn đề của mình.”
“My mind isn’t wandering. I am not thinking of anything else. I am totally involved in what I am doing. My body feels good. I don’t seem to hear anything. The world seems to be cut off from me. I am less aware of myself and my problems.”

Mihaly Csikszentmihalyi, nhà tâm lý học tích cực được vinh danh vì đã phổ biến khái niệm này, mang đến một định nghĩa khác cho trạng thái tinh thần “dòng chảy tâm lý” trong bài phỏng vấn của ông với tạp chí Wired.
Mihaly Csikszentmihalyi, the positive psychologist credited with having popularized the concept of Flow, offers another definition for the mental state of being ‘in Flow’ in his interview with Wired magazine:
“…là hoàn toàn tham gia vào hoạt động và chỉ hoạt động đó mà thôi. Cái tôi không còn. Thời gian trôi nhanh. Mỗi một hành động, chuyển động và suy nghĩ đều nối theo cái trước đó, như khi bạn chơi nhạc jazz vậy. Toàn bộ con người bạn đều gắn vào đó, và bạn đang sử dụng kỹ năng của mình ở mức cao nhất.”
“…being completely involved in an activity for its own sake. The ego falls away. Time flies. Every action, movement, and thought follows inevitably from the previous one, like playing jazz. Your whole being is involved, and you’re using your skills to the utmost.”
Nếu điều này nghe giống như những trạng thái tinh thần khác, là thứ có thể được hỗ trợ bởi thiền định hoặc yoga, thì những quan điểm tương tự cũng khá thường gặp trong Phật Giáo, Đạo Giáo và Hindu giáo. Nói một cách ngắn gọn, Dòng chảy tâm lý có thể được coi là:
If it’s something that sounds akin to other mental states, like those that meditation or yoga can facilitate, it may be interesting to note that similar ideas feature in Buddhist, Taoist, and Hindu literature. To put it succinctly, Flow can be thought of as (Csikszentmihalyi and Csikszentmihalyi, 1988: 36):
“cảm quan toàn diện người ta có được khi họ toàn tâm toàn ý gắn kết vào hành động của mình.”
“the holistic sensation that people feel when they act with total involvement.”
Học thuyết và tâm lý học về Dòng chảy tâm lý. The Theory and Psychology of Flow
Học thuyết về Dòng chảy tâm lý trở thành đề tài quan tâm của các nhà tâm lý học tích cực như Jacob Getzels và Mihaly Csikszentmihalyi khi họ nghiên cứu về quá trình sáng tạo trong suốt những năm 1960 (Getzels & Csikszentmihalyi, 1976).
Flow theory became of interest to positive psychology researchers Jacob Getzels and Mihaly Csikszentmihalyi when they were studying the creative process during the ‘60s (Getzels & Csikszentmihalyi, 1976).
Quan sát nghệ sĩ lúc làm việc, Csikszentmihalyi bị thu hút bởi sự tập trung thuần túy, độc nhất và sự kiên trì tiếp tục việc vẽ, dù cho có bất kỳ khó chịu, mệt mỏi hay đói ra sao. Tuy nhiên, khi vẽ xong, người nghệ sĩ lại hoàn toàn không còn cho thấy hứng thú gì nhiều với tác phẩm đã hoàn thành.
Watching an artist at work, Csikszentmihalyi became intrigued by their single-minded, unique focus, and persistence to continue with the painting, in spite of any discomfort, tiredness, or hunger. On finishing the painting, however, the artist entirely ceased showing any interest in the completed work.

Csikszentmihalyi (1975) sau đó thực hiện nghiên cứu về lĩnh vực này, ông đi sâu tìm hiểu những bối cảnh và bản chất chủ quan của hiện trạng hưng phấn này ở các vũ công và người chơi cờ vua, v.v… Rõ ràng là Dòng chảy tâm lý xuất hiện nhờ ít nhất hai yếu tố chủ chốt: Mục tiêu và phản hồi.
Csikszentmihalyi (1975) then took his research into other fields, looking at the circumstances and subjective nature of this enjoyment-related phenomenon in dancers and chess players, to name a few. It became apparent that the Flow state was brought about by at least two key things: goals and feedback.
Đầu tiên, dòng chảy tâm lý tối ưu được tạo ra khi chủ thể giải quyết khó khăn họ nghĩ là vừa đúng tầm “vươn dài” kỹ năng của họ. Nói cách khác, không quá khó nhằn cũng không quá dễ để bị nhàm chán.
First, an optimal Flow state was created when people tackled challenges that they perceived to be at just the right level of ‘stretch’ for their skill sets. In other words, neither too tough nor too easy as to be boring.
Thứ hai, họ có những mục tiêu ngắn hạn rõ ràng và nhận được những phản hồi tức thì về quá trình. Điều kiện thứ hai khiến họ nhận thức được quá trình và giúp họ thay đổi hành động hướng đến mục tiêu sao cho phù hợp.
Second, they had unambiguous short-term goals and received instant feedback on their progress. This latter condition made them aware of their progress and let them change their goal-oriented actions accordingly.
Sau tất cả, chủ thể đều mô tả ở trong trạng thái Dòng chảy tâm lý là một trải nghiệm rất thích thú. Họ tận hưởng việc kiểm soát được phần lớn công việc nhờ những phản hồi liên tục nhận được. Sau cùng, chủ thể thấy bất kể họ đang làm gì thì điều đó cũng khiến họ có cảm giác tự thưởng.
Throughout it all, people described being ‘in Flow’ as a highly pleasurable experience. They enjoyed being in control of the task-related largely to the ongoing feedback they received. Ultimately, they found whatever they were doing to be highly self-rewarding (Stavrou et al., 2015).
Dòng chảy tâm lý và Tâm lý học tích cực. Flow and Positive Psychology
Theo lẽ tự nhiên, mối quan tâm tiếp theo của các nhà tâm lý học tích cực là quá trình dòng chảy tâm lý được tạo ra, được kiểm soát và được cảm nhận liên quan đến những khía cạnh bản thân giúp chúng ta phát triển.
Naturally, the next point of interest for positive psychologists became how Flow could be created, controlled, and understood in relation to other aspects of the self that allow us to flourish.
Dòng chảy trở thành một đề tài thu hút các nhà tâm lý học tích cực, những người vốn đã tìm hiểu năng suất làm việc, hướng đến mục tiêu, sáng tạo, sự chú ý và đương nhiên, là cảm xúc. Chỉ sau đó một chút, quan niệm này bắt đầu phổ biến dần trong nhóm các nhà nghiên cứu như Deci và Ryan (1985), những người quan tâm đến dòng chảy tâm lý trong khía cạnh động lực nội sinh.
Flow became fascinating to positive psychologists already looking at performance, goal orientation, creativity, attention, and of course, emotions. Only a little after that, the concept grew more popular with researchers such as Deci and Ryan (1985), who were interested in flow within intrinsic motivation.
Quan trọng hơn hết là, nó được coi là một nội dung lớn giúp cải thiện trải nghiệm sống với vai trò giúp chúng ta sống một cuộc đời có ý nghĩa (Seligman, 2002:249). Một cuộc sống nơi chúng ta sử dụng những phẩm chất và thế mạnh cho một thứ gì đó “rộng lớn hơn” chính chúng ta, là nơi chúng ta dành ít thời gian lo lắng về những thứ giả tạo hay tầm thường. Nơi chúng ta ít bị làm phiền bởi sự nhàm chán của những điều quá dễ dàng, hay choáng ngợp bởi những thứ quá khó khăn.
Most importantly, it’s been considered a huge part of improving our human experience for its role in living a meaningful life (Seligman, 2002: 249). A life in which we use our virtues and strengths for ‘something much larger’ than we are, where we spend less time worrying about the inauthentic and the mundane. Where we’re less annoyed by the boredom of the too-easy, or overwhelmed by the frustration of the too-challenging.

Hiểu được cách tiến vào dòng chảy tâm lý, và duy trì nó, theo đó, có thể coi là một cách tuyệt vời để tận hưởng những hoạt động ta đang làm.
Understanding how to enter the flow state, and maintain it, therefore, is seen as a great way to enjoy the activities we get engaged in.
Công trình của Mihaly Csikszentmihalyi. The Work of Mihaly Csikszentmihalyi
Csikszentmihalyi thường mô tả dòng chảy tâm lý là một dạng trải nghiệm có chủ đích. Trải nghiệm có chủ đích thường đơn giản là mô tả một hoạt động khá thoải mái, vui vẻ và giúp thúc đẩy bản thân từ bên trong.
Csikszentmihalyi often describes Flow as an autotelic experience. An autotelic experience quite simply describes an activity that’s pleasant, enjoyable, and intrinsically motivating.
Có lẽ bạn sẽ dễ hiểu được công trình của Csikszentmihalyi ảnh hưởng sâu rộng như thế nào đến ngành tâm lý học tích cực nếu chúng ta xem xét chính khía cạnh khác nhau tạo nên quan niệm này.
It’s perhaps a little easier to understand how Csikszentmihalyi’s seminal work has impacted the field of positive psychology if we consider the nine different dimensions that comprise the concept.
Các yếu tố cơ bản của dòng chảy tâm lý, theo nghiên cứu của Csikszentmihalyi (1990; Nakamura và Csikszentmihalyi, 2002), bao gồm:
The universal factors of flow, per Csikszentmihalyi’s studies (1990; Nakamura and Csikszentmihalyi, 2002), include:
– Cân bằng thử thách – kỹ năng. Challenge-skill balance;
– Hợp nhất hành động – nhận thức. Action-awareness merging;
– Mục tiêu rõ ràng. Clear goals;
– Phản hồi rõ ràng. Unambiguous feedback;
– Tập trung vào công việc đang làm. Concentration on the task at hand;
– Cảm giác kiểm soát. A sense of control;
- Mất ý thức về bản thân. Loss of self-consciousness;
– Thời gian biến chuyển. Transformation of time;
– Trải nghiệm có chủ ý. Autotelic experience.
Trong cuốn sách nổi tiếng của Csikszentmihalyi, trạng thái dòng chảy tâm lý bao hàm những khoảnh khắc có ý nghĩa khiến cuộc đời trở nên đáng sống.
In Csikszentmihalyi’s popular book, the Flow state encompasses the meaningful instances in life that make it worth living:
“Bạn biết rằng những gì bạn cần phải làm đều khả thi, dù cho có khó khăn, và cảm nhận về thời gian của bạn biến mất. Bạn quên luôn bản thân. Bạn cảm thấy là một phần của thứ gì đó lớn lao hơn.”
“You know that what you need to do is possible to do, even though difficult, and sense of time disappears. You forget yourself. You feel part of something larger”
Qua nghiên cứu nhiều trường hợp khác nhau, Mihaly nhìn vào các cách ta có thể bước vào và tận dụng tối đa trạng thái Dòng chảy – như những người đang làm việc, và với tư cách từng cá nhân. Mục tiêu cao nhất là gì? Là nâng cao chất lượng cuộc sống bằng cách gắn kết vào những thứ ta thích làm. Thay vì cứ mãi chán chường, hoặc bực bội vì những thử thách quá phức tạp, việc làm những thứ ta thích nhất trong trạng thái Dòng chảy có thể giúp ta chạm đến tầng ý nghĩ lớn lao hơn của cuộc sống.
Using different case studies, Mihaly looks at ways that we can enter and make the most of Flow – as workers, and as individuals. The ultimate goal? To enrich our lives by getting engaged in things we love doing. Instead of getting hung up with boredom, or frustrated by over-complicated challenges, doing the things we enjoy most within the Flow zone helps us tap into the greater meaning in life.

Csikszentmihalyi cũng cho ta rất nhiều ví dụ về cách con người sử dụng Dòng chảy để ra lệnh cho ý thức, mang đến cho ta một cảm nhận rằng mình kiểm soát được hạnh phúc nội tại. Bằng cách định hướng những trải nghiệm tối ưu của chính mình, ta sẽ đạt đến “cảnh giới” này.
Csikszentmihalyi also gives us a wealth of examples of how people use Flow to order our conscious minds, bringing us a sense that we have control over our inner happiness. By directing our own optimal experiences, we attain a kind of mastery.
Cuốn sách của ông chắc chắn rất đáng đọc, nó mang đến hiểu biết sâu sắc về cách chúng ta có thể thúc đẩy trạng thái Dòng chảy theo nhiều cách khác nhau trong cuộc sống. Nó mang đến nhiều ý tưởng giúp xác định và nắm bắt được các cơ hội trải nghiệm Dòng chảy trong các trải nghiệm cuộc sống thường nhật, cũng như tạo đòn bẩy để đạt được những hoài bão lớn lao hơn.
His book is definitely worth reading, offers insight into how we can encourage Flow in different ways in our lives. It gives us great ideas about identifying and tapping into opportunities for Flow in our day-to-day experiences, as well as leveraging it to achieve our larger ambitions.
Biểu đồ và Tỷ lệ của trạng thái Dòng chảy. The Flow State Chart and Scale
Biểu đồ Dòng chảy của Mihaly Csikszentmihalyi (không giống như lưu đồ bình thường) dựa trên công trình nghiên cứu nhiều năm của ông, bắt đầu từ những năm 1960. Có lúc được gọi là “Mô hình Dòng chảy”, có 8 vùng khác nhau được mô tả dưới đây.
Mihaly Csikszentmihalyi’s Flow state chart (not to be confused with a regular flow chart) is based on his years of research that began, as noted, back in the ‘60s. Sometimes called the Flow Model, eight different zones are depicted as shown below.

Những khía cạnh chính cần cân nhắc ở đây, như đã đề cập, có thể được nhìn thấy trong các trục biểu đồ trong cuốn sách Finding Flow của Csikszentmihalyi (1998) – nhận thức sự cân bằng (tỷ lệ) thách thức-kỹ năng. Khi cả hai đều ở mức tối ưu, cao hoặc các điều kiện ở mức lý tưởng để bước vào trạng thái Dòng chảy.
The key dimensions to consider here, as we mentioned, can be seen in the axes of the chart from Csikszentmihalyi’s (1998) book Finding Flow – perceived challenge-skill balance (or ratio). When these are both at an optimal, high level, conditions are ideal for entering a Flow state.
Thang đo trạng thái dòng chảy của Csikszentmihalyi. Csikszentmihalyi’s Flow State Scale
Thang đo Trạng thái Dòng chảy (FSS) được áp dụng thường xuyên nhất trong nghiên cứu khoa học và trong tâm lý học thể thao (Jackson & Marsh, 1996). Công cụ có 36 mục giúp đo lường 9 khía cạnh của trạng thái Dòng chảy; những nội dung này liên quan trực tiếp đến các khía cạnh được xác định và mô tả bởi công trình nghiên cứu đầu tiên của Csikszentmihalyi (1990).
The Flow State Scale (FSS) is most frequently seen in academic research and in sports psychology (Jackson & Marsh, 1996). The 36-item instrument measures Flow’s nine dimensions along nine four-item scales; these pertain directly to those dimensions identified and described by Csikszentmihalyi’s earlier work (1990).
Các thang đo bao gồm thang đo Likert 5 điểm và nhìn chung được thực hiện bằng cách yêu cầu tham dự viên nhớ lại một trải nghiệm Dòng chảy cụ thể hoặc như kiểu đánh giá dòng chảy sau khi nó đã diễn ra. Một số mục mẫu được mô tả bên dưới. Bản thân thang Likert cũng là tiêu chuẩn đồng nhất trong suốt bài kiểm tra, dao động từ Cực kỳ không đồng ý (1) đến cực kỳ đồng ý (5) (Jackson và Marsh, 1996).
The scales comprise 5-point Likert scale questions and are generally either administered by asking the participant to recall a specific Flow experience or as post-event flow assessments. Some sample items are shown below. The Likert scales themselves are standard and uniform throughout the test, ranging from Strongly Disagree (1) to Strongly Agree (5) (Jackson & Marsh, 1996).
– Tôi có khó khăn nhưng tôi tin rằng kỹ năng của tôi sẽ giúp tôi đáp ứng được thách thức này. I was challenged, but I believed my skills would allow me to meet the challenge.
– Sự chú ý của tôi tập trung vào cái tôi đang làm. My attention was focused entirely on what I was doing.
– Tôi thực sự tận hưởng trải nghiệm này. I really enjoyed the experience.
– Tôi không tốn mấy công sức để tập trung chú ý vào cái đang diễn ra. It was no effort to keep my mind on what was happening.
– Tôi cảm thấy đủ năng lực để đáp ứng các đòi hỏi cao từ tình huống. I felt I was competent enough to meet the high demands of the situation.
– Tôi không quan tâm đến cách tôi đang thể hiện bản thân. I was not concerned with how I was presenting myself.
– Thách thức và các kỹ năng của tôi có cấp độ ngang nhau. The challenge and my skills were at an equally high level.
– Tôi làm mọi thứ một cách tự nhiên và tự động, không cần phải suy nghĩ. I did things spontaneously and automatically without having to think.
– Đôi khi, mọi thứ như đang diễn ra trong chuyển động chậm. At times, it almost seemed like things were happening in slow motion.
Kể từ lúc mới được xây dựng, công cụ này đã được điều chỉnh để tối đa khả năng đo lường một số nội dung nhất định, kết quả là cho ra đời phiên bản rút gọn FSS-2 và Thang đo Dòng chảy bố trí (Jackson và Eklund, 2002).
Since its initial construction, the instrument has been adapted to enhance its ability to measure certain dimensions, resulting in the shorter FSS-2 and the Dispositional Flow scale-2 (DFS-2) (Jackson & Eklund, 2002).
Cả 3 thang đo mà ta vừa đề cập đều được giữ vững vị trí là các công cụ đáng tin cậy trong đo lường tâm lý – hai ngoại lệ ở đây liên quan đến tính nhất quán thấp hơn ở mục nội tâm quá trình tự nhận thức và thời gian trong các bài kiểm tra dạng ngắn (Marsh và Jackson, 1999; Jackson và cộng sự, 2008).
All three of the scales we have looked at hold up reasonably well as psychometrically reliable instruments – two exceptions to this relate to the lower internal consistency of the self-awareness and time subscales in the short-form tests (Marsh & Jackson, 1999; Jackson et al., 2008).
Tìm hiểu trạng thái Dòng chảy và Hạnh phúc. A Look at Flow and Happiness

Cả sức khỏe tâm lý và sức khỏe chủ quan đều được nhiều nhà nghiên cứu thực nghiệm liên kết với nhau theo thời gian (Bryce & Haworth, 2002; Heo và cộng sự, 2010). Về bản chất, Dòng chảy tâm lý cũng có liên quan đến sự suy giảm (hoặc mất đi) tự nhận thức về chính mình, ít nhất là có liên quan đến hạnh phúc – nếu không muốn nói nó là một công cụ để có được các cảm xúc tích cực.
Both psychological and subjective well-being have been empirically linked by numerous researchers over time (Bryce & Haworth, 2002; Heo et al., 2010). By its very nature, Flow is also related to lower (or a loss of) self-consciousness, suggesting that it is at least related to happiness – if not a means of feeling positive emotions.
Thực sự thì, hạnh phúc và cảm giác được tưởng thưởng có liên đới với trải nghiệm tự thân có mục đích khi ở trong trạng thái Dòng chảy, mặc dù các hoạt động cá nhân mà tất cả chúng ta tham gia khi bước vào trạng thái này là khác nhau.
Indeed, happiness and a sense of reward are associated with the autotelic experience of being in a Flow state, although the individual activities that we all participate in to enter the state itself are different.
Nghiên cứu về trải nghiệm Dòng chảy. The Research on Flow Experience
Từ trước tới nay, ta chỉ có cái nhìn khá chung chung về cách sử dụng khái niệm dòng chảy tâm lý trong khuôn khổ các học thuyết để nâng cấp hiểu biết của ta về khái niệm này. Ở đây, chúng ta sẽ cùng xem xét một chút các nghiên cứu về trải nghiệm dòng chảy tâm lý đã đóng vai trò thế nào trong các lĩnh vực khác, cũng như tập trung vào “khoảng trống” khá thú vị trong cơ sở lý thuyết – khái niệm về tính cách tự thân có mục đích.
We’ve only looked quite briefly so far at how the Flow concept has been used with other theoretical frameworks to advance our understanding of the concept. Here, we’ll take a little peek at how the research on Flow experience has played a role in other fields, as well as a particularly interesting perceived ‘gap’ in the literature—Csikszentmihalyi’s notion of the autotelic personality.
Trải nghiệm Dòng chảy trực tuyến. The Flow Experience online
Cũng không mấy ngạc nhiên khi khái niệm dòng chảy tâm lý đã rất phổ biến trong giới tiếp thị, quảng cáo, giáo dục, thiết kế game và những người làm trong các lĩnh vực có gắn kết lớn với trải nghiệm người dùng. Trong hầu hết các trường hợp, điều này được liên đới với trải nghiệm Dòng chảy của người dùng trên Internet.
Somewhat unsurprisingly, the Flow concept has gained popularity with marketers, advertisers, educators, game designers, and others working in fields that are heavily involved with User Experience (UX). In most cases, this has been associated with users’ Flow experiences while on the internet.
Hoffman và Novak (1996) đã có những bước tiến rất xa khi đưa ra tiên đề cho rằng “Dòng chảy tâm lý là “chất keo” giữ người tiêu dùng trong môi trường siêu phương tiện trung gian qua máy tính.
Hoffman and Novak (1996) have even gone so far as to premise that “Flow is the ‘glue’ holding the consumer in the hypermedia Computer-Mediated Environment”.
Một số ví dụ thú vị về nhiều phát hiện khác nhau bao gồm:
em>Some interesting examples of the diverse findings include the following:
Một nghiên cứu năm 2017 về các chương trình huấn luyện trên web, nơi Choi và cộng sự đã phát hiện ra mối quan hệ tích cực giữa tham dự viên có trải nghiệm trạng thái Dòng chảy và kết quả học tập của họ.
A 2007 study on Web-based training programs, where Choi and colleagues found a positive relationship between participants experiencing Flow and their learning outcomes;
Nghiên cứu thực nghiệm của Hoffman và Novak (1996) về ảnh hưởng có thể xuất hiện của trạng thái Dòng chảy lên thái độ và định hướng hành vi của người dùng web trên các nền tảng tiếp thị trực tuyến. Trải nghiệm trạng thái Dòng chảy còn được cho là làm tăng khả năng kiểm soát của người dùng lên hành vi mua sắm của bản thân.
Hoffman and Novak’s (1996) empirical research on how the Flow experience can positively influence Web users’ attitudes and behavioral intentions in online marketing. The Flow experience was also hypothesized to increase users’ perceived control over their purchasing behavior;
Nghiên cứu của Killi (2005) đưa ra bình luận về khả năng thiết kế các trò chơi máy tính mang tính giáo dục giúp hỗ trợ trải nghiệm trạng thái Dòng chảy nhằm tăng cường thái độ học của người chơi game – một “mô hình trải nghiệm game”.
Kiili’s (2005) research, which comments on the very real possibility of designing educational computer games that facilitate the Flow experience to enhance learning and player attitudes—an ‘experiential gaming model’;
Một nghiên cứu thực hiện bởi Rettie (2001) về định nghĩa của bà về “Dòng chảy Internet”, sử dụng Phương pháp lấy mẫu trải nghiệm để kiểm tra kỹ hơn vai trò của các yếu tố khác nhau như tốc độ tải xuống, các thanh quảng cáo và các yếu tố khác về hành vi người tiêu dùng.
A study by Rettie (2001) on what she terms ‘Internet Flow’, which uses the Experience Sampling Method to more closely examine the role of different factors such as download speed, banner ads, and more on consumer behavior.
Những nghiên cứu tuyệt vời này đều là những tài liệu tốt mà các trị liệu viên có thể tham khảo thêm để hiểu được trải nghiệm Dòng chảy và ứng dụng nó trong thế kỷ 21. Chúng cũng là những ví dụ hay ho về quá trình phát triển của khái niệm mà Csikszentmihalyi đặt ra năm 1975, giúp ta hiểu được hành vi tìm kiếm hạnh phúc, định hướng mục tiêu và khám phá trong đời sống hằng ngày.
These brilliant studies are all great further reads for therapists looking to further understand the Flow experience and its 21st Century applications. They are also very lovely examples of how Csikszentmihalyi’s (1975) concept has continued to help us understand our own happiness-seeking, goal-directed, and exploratory behavior on a day-to-day basis.
Trải nghiệm Dòng chảy và Tương tác xã hội. The Flow Experience and Social Interactions
Một khía cạnh nghiên cứu thú vị khác về trải nghiệm Dòng chảy liên quan đến trải nghiệm tích cực chủ quan của chúng ta ở cấp độ giữa người với người (Magyaródi & Olah, 2017). Nghiên cứu tương đối mới này đã sử dụng bảng hỏi Trạng thái Dòng chảy – một phương pháp đo lường khác của trải nghiệm Dòng chảy – để tìm ra những hiểu biết sâu sắc về trạng thái này trong các hoạt động hợp tác, phối hợp.
Another interesting area of research into the Flow experience concerns our positive subjective experiences at the interpersonal level (Magyaródi & Olah, 2017). This relatively new study used the Flow State Questionnaire—another measure of the Flow Experience—to reveal insights into the Flow experience in shared, cooperative activities.

Các phát hiện cho thấy Dòng chảy “xã hội” thực sự có thể làm tăng cường độ của chính trải nghiệm: tham dự viên phối hợp trong các hoạt động cùng nhau sẽ càng đắm mình vào chính nhiệm vụ lúc đó. Nhóm tác giả cho rằng những kết quả này có thể có ý nghĩa trong sự phát triển xã hội.
Findings suggest that ‘social’ Flow can actually add to the intensity of the experience itself: participants coordinating in activities together became more absorbed in the task at hand. The authors argue that these results may hold implications for our social development.
Tính cách mục đích tự thân. The autotelic personality
Khái niệm tính cách mục đích tự thân thường được sử dụng cho những năng lực khác nhau ở những cá nhân khác nhau khi trải nghiệm trạng thái dòng chảy trong công việc hoặc đời sống nói chung. So với những ứng dụng khác của khái niệm Dòng chảy, thì phạm trù này ít được đề cập hơn trong các tài liệu học thuật – ít nhất là trong các nghiên cứu thực nghiệm.
The concept of the autotelic personality is often used to account for different peoples’ diverse capacities to experience flow at work or in general. Compared with some other applications of the Flow concept, it appears less frequently in the academic literature—at least in empirical studies.
Tính cách mục đích tự thân mô tả khuynh hướng chủ thể có các hoạt động với những lý do liên quan đến động lực nội tại. Nói cách khác, họ có thể có được nhiều niềm vui hơn từ bản thân nhiệm vụ thay vì bị thúc đẩy bởi mục tiêu tương lai, và dễ có khả năng tập trung “dễ dàng” trong một công việc ngay tại thời điểm đó (Csikszentmihalyi, 2002; Engeser và Rheinberg, 2008).
An autotelic personality describes the tendency of individuals to engage in activities for reasons related to intrinsic motivation. In other words, they may derive more enjoyment from the task itself rather than being driven by a future goal, and more easily able to focus ‘effortlessly’ on a task at hand (Csikszentmihalyi, 2002; Engeser and Rheinberg, 2008).

Những người này cũng có khả năng tự điều chỉnh bản thân tốt hơn, theo nghiên cứu kết luận (Keller và Blomann, 2008).
They may also be more capable of self-regulating, some research suggests (Keller and Blomann, 2008).
Sóng não và Khoa học thần kinh. Brain Waves and Neuroscience

Sự quan tâm trong ngành khoa học thần kinh dành cho trạng thái Dòng chảy đã bắt đầu nở rộ gần đây, một phần là từ nhà nghiên cứu nhận thức thần kinh Arne Dietrich. Có lẽ một trong những phát hiện dễ hiểu nhất của ông, theo ngôn ngữ bình dân, là hoạt động thể chất giúp các vùng não “tập trung” được nghỉ ngơi một chút.
Interest in the neuroscience behind Flow has started to blossom quite recently, spearheaded in part by neurocognitive researcher Arne Dietrich. Perhaps one of his most easily understandable findings, in layman’s terms, is that physical activity gives the ‘focused’ cerebral areas a little break.
Những vùng não khác được trao quyền tiếp quản, tạm thời giải phóng chúng ta khỏi những quá trình như tự nhận thức bản thân và độc thoại nội tâm, từ đó đưa ta vào một trạng thái thư giãn và sáng tạo hơn (Dietrich, 2004).
Other areas are then allowed to take over, freeing us up temporarily from processes such as self-consciousness and self-talk, and leading us into a more relaxed and creative state (Dietrich, 2004).
Theo khoa học, đây được gọi là Giảm hoạt động tạm thời khu vực não trước trán, tức sự tham gia hoạt động của vùng vỏ não trước trán bớt đi. Vì vỏ não trước trán của ta chịu trách nhiệm thực hiện các quá trình nhận thức cao hơn – bao gồm tự chiêm nghiệm, tư duy phân tích, và các năng lực siêu ý thức khác, nên hệ thống ngầm có thể đóng vai trò lớn hơn. Quá trình xử lý thông tin dễ dàng xảy ra ngay sau đó và chúng ta bước vào trạng thái Dòng chảy mà ta mong muốn.
Scientifically, it’s termed transient hypofrontality and refers to a less engaged prefrontal cortex. Because our prefrontal cortices take care of higher cognitive processes—including self-reflection, analytical thinking, and other meta-conscious capacities, our implicit system can play a bigger role. Effortless information processing ensues, and we enter the highly desirable Flow state.
Làm sao để bước vào trạng Dòng chảy tâm lý. How to Enter a Flow State of Mind
Bước vào trạng thái Dòng chảy tâm lý có thể được thực hiện theo nhiều cách. Mỗi người đều có những yếu tố châm ngòi và nhiều hoạt động yêu thích khác nhau. Trong các phần dưới đây, chúng ta sẽ tìm hiểu những hoạt động thường có liên đới với trạng thái Dòng chảy tâm lý, và một số yếu tố châm ngòi mà bạn có thể đã từng gặp trong quá khứ.
Entering a Flow state of mind can be done several ways. Everyone has different triggers and various activities that they enjoy doing. In the next couple of sections, we’ll look at different activities that are commonly associated with a Flow state, and some triggers that you may already be familiar with from past experience.

Tin tốt ở đây là nhiều khi, bạn có thể đạt được trạng thái Dòng chảy tâm lý chỉ bằng cách làm những gì bạn yêu thích. Hãy chọn một hoạt động mà bản thân thích làm, từ lướt ván đến cưỡi ngựa, hay soạn nhạc hoặc khiêu vũ. Một số câu hỏi ví dụ:
The great news is that sometimes, attaining a Flow State is as simple as doing what you love. Pick an activity that you can see yourself enjoying, from windsurfing or horse-riding to composing music or dancing. Example questions include:
Tôi trân trọng trạng thái Dòng chảy này nhất vì nó… I value Flow most because it…
– Truyền cảm hứng giúp tôi giải quyết khó khăn một cách sáng tạo; Inspires me to solve challenges creatively;
– Giúp tôi cảm thấy mình hòa làm một với mọi thứ đang diễn ra; Lets me feel like I’m at one with everything that’s happening;
– Là khoảng thời gian duy nhất mà tôi có thể “tắt đi” danh sách nhiệm vụ tôi phải làm; Is about the only time I can turn off my ‘to-do’ list;
– Giúp tôi chia sẻ những khoảnh khắc tuyệt vời với người khác; Lets me share amazing moments with others.
Tôi thường thấy mình bước vào trạng thái Dòng chảy tâm lý nhiều nhất khi… I find myself in Flow most often…
– Ở một mình hoặc với một nhóm người thân hiểu rõ tôi; Alone or with a tight crew who can keep up;
– Ở với những người tôi có thể cùng tạo dựng năng lượng với nhau; With people so we can build off each other’s energy;
– Khi tôi một mình, vì tôi có thể tập trung sâu; When I’m by myself so I can focus deeply;
– Trong những không gian yên lặng nơi tôi cảm thấy mình kết nối với điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình. In serene settings where I feel connected to something bigger than myself.
Tôi tìm thấy Dòng chảy của mình khi… I find Flow when…
- Tim tôi đập nhanh, adrenaline phóng thích và khoảnh khắc đó mang tính sống còn; My heart’s beating, adrenaline’s pumping and it’s make or break time;
– Chúng tôi cùng đắm chìm vào khoảnh khắc đó và cảm thấy mình được kết nối với điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình; We’re all swept up in the moment together and feel connected to something bigger than ourselves;
– Mọi thứ đều rất đẹp đẽ và dễ dàng – mọi thứ xảy ra thật hoàn hảo; Everything’s beautiful and effortless—things happen perfectly;
– Nhiều giờ trôi qua và tôi chìm đắm trong công việc và kết quả đưa đến là một điều gì đó thật tuyệt vời. Hours go by and I lose myself in my work and come up with something amazing.
Hoạt động khiến bạn làm và gắn kết thêm nhiều hành động khác nhằm đạt được trạng thái Dòng chảy tâm lý. Dưới đây là một số ví dụ:
The activity will lead you to more activities you can get engaged in to attain a Flow State, by revealing your ‘Flow Profile’. The following are some example profiles.
“Chơi khó” – ở đây, các hoạt động bao gồm: Hard Charger – in this case, your activities will include:
– “Thể thao mạo hiểm”. Trượt băng, trượt tuyết, lướt sóng, nhảy dù, đạp xe địa hình, võ tổng hợp, leo vách núi đá, đua xe, súng sơn đều đưa đến sự tập trung cao độ bạn cần. Bạn thích đi du lịch mạo hiểm, phá cách. Bạn không mấy thích thú những lịch trình tìm hiểu không gian văn hóa.”
“Adventure sports.” Skiing, snowboarding, surfing, skydiving, mountain biking, MMA, rock climbing, racing, and paintball all deliver the intensity you seek. You favor non-traditional, off-the-beaten-path travel. You’re less interested in itineraries than you are in cultural immersion.
– “Xuôi dòng” – hoạt động của bạn có thể bao gồm yoga, thiền định, và tu dưỡng, khiêu vũ chữa lành, và những hoạt động tự vấn tâm hồn khác.
Flow Goer – your activities may encompass things such as meditation, yoga, and retreats, ecstatic dance, and other soul-searching activities.

– “Suy ngẫm” – ta đạt được trạng thái dòng chảy thường nhờ vào những hoạt động như nạp lại năng lượng sau những hoạt động khác, làm vườn, leo núi, chơi một loại nhạc cụ và chiêm nghiệm.
Deep Thinker – attaining a Flow state is often related to activities such as recharging from activities, gardening, hiking, playing a musical instrument, and reflection.
Dưới đây là một trong số những hoạt động thể chất phổ biến nhất để đạt trạng thái dòng chảy: We’ve also included some of the most popular physical activities below:
– Yoga – Hít thở có kiểm soát và một không gian yên tĩnh là những yếu tố thuận lợi để tập trung suy nghĩ của bạn vào những thứ hiện tại bạn đang làm, ngay ở đây và ngay lúc này. Với mức độ thử thách và kỹ năng hợp lý giúp cân bằng và kéo dãn, một số người thấy yoga rất dễ đưa ta vào trạng thái Dòng chảy tâm lý.
Yoga – controlled breathing and a quiet setting are great conditions for focusing your thoughts on what you’re doing in the present, here and now. With the right challenge to skills ratio in terms of balance and stretching, some find yoga is very conducive to attaining a Flow state;
– Bơi lội – nếu bạn là người thích hoạt động thể lực cường độ cao một chút thì bơi lội sẽ giúp bạn tập trung vào kỹ năng, hơi thở. Ngoài ra, sẽ có khá ít thứ làm xao nhãng khi cơ thể bạn đang ở dưới nước.
Swimming – if you’re one who enjoys slightly more intense physical activities, swimming lets you concentrate on your technique, breathing. Plus, there are few distractions when you’re physically in the water;
– Chạy bộ – mức độ thử thách của chạy bộ là khá rõ ràng, cho phép bạn tìm thấy sự cần bằng lý tưởng ở năng lực bản thân nhằm đạt trạng thái Dòng chảy tâm lý. Nếu bạn thấy mình đôi khi hay “tự nói một mình” khi đang chạy, hoặc nghĩ ngợi về mọi thứ, thì cân nhắc nghe nhạc hoặc nghe một cuốn sách nói hay.
Running – challenge levels are very straightforward to set when you’re running, allowing you to find the ideal balance with your abilities for attaining a Flow state. If you find that you sometimes tend to ‘self-talk’ while running, or think things over, it may help to listen to music or a good audiobook; and
– Leo vách núi đá – hoạt động này thường được đề cập trong nghiên cứu đầu tiên của Csikszentmihalyi và cộng sự, nhờ vào khả năng mang đến sự hòa trộn linh hoạt giữa mức độ tập trung tinh thần và sử dụng thể chất.
Rock climbing – this activity featured quite frequently in Csikszentmihalyi and others’ earlier research, thanks to its ability to provide a flexible blend of physical exertion and focus.

17 yếu tố châm ngòi cho trạng thái Dòng chảy. 17 Flow State Triggers to Induce Flow
Vậy chính xác thì cái gì châm ngòi cho trạng thái Dòng chảy? Nhiều năm về trước, nhà đồng sáng lập dự án Flow Genome đã xuất bản một bài báo xuất sắc trên Harvard Business Review.
So what exactly is a ‘Flow State Trigger’? Several years ago, co-founder of the Flow Genome Project Steven Kotler published a brilliant article in the Harvard Business Review.
Trong bài bình luận chuyên sâu về Dòng chảy trong tổ chức, ông đã chia sẻ 17 yếu tố châm ngòi kích hoạt trạng thái Dòng chảy từ cuốn sách The Rise of Superman: Decoding the Science of Ultimate Human Performance.
In his insightful commentary on Flow in the organization, he shared 17 Flow State triggers from his book The Rise of Superman: Decoding the Science of Ultimate Human Performance.
Tóm lại, yếu tố kích hoạt trạng thái dòng chảy là những điều kiện (như Csikszentmihalyi thường mô tả) giúp hỗ trợ ta bước vào trạng thái Dòng chảy. Những yếu tố này có thể thuộc một trong bốn nhóm: tâm lý, môi trường, xã hội hoặc sáng tạo.
Concisely, flow triggers are conditions (as Csikszentmihalyi often describes them) that facilitate entry into a Flow state. These Flow State triggers can be one of four types: psychological, environmental, social, or creative.

Yếu tố châm ngòi từ tâm lý. Psychological triggers
Bốn chiến lược sau đây giúp thúc đẩy động lực nội tại, và chúng hoạt động bằng cách tập trung sự chú ý của ta vào hiện tại; cái gì đang có ở ngay trước mắt chúng ta, hoặc hoạt động nào ta đang tham gia. Với tất cả các hoạt động kể ở trên để đạt được trạng thái Dòng chảy, thì sự có mặt của những yếu tố châm ngòi chắc chắn có thể giúp ích cho quá trình này. Bao gồm:
The following four strategies are internally driven, and they work by focusing our attention on the present; what’s right in front of us, or the activity we’re engaged in. For all the activities we’ve listed above to attain a Flow state, the presence of these triggers can definitely help the process along. They include:
– Tập trung cao độ – Khi ta tập trung toàn bộ tâm trí cho một nhiệm vụ nhất định nào đó. Ta không thực hiện hành động này với ai khác. Như Csikszentmihalyi, chúng ta làm một mình.
Intense concentration – When we focus with undivided attention on a certain task. We aren’t engaging in activities with others. Like Csikszentmihalyi’s painter, we’re solo.
– Mục tiêu rõ ràng – nhiều nghiên cứu đề cập ở trên (và rất nhiều các nghiên cứu khác) ủng hộ quan điểm cho rằng mục tiêu ta hướng đến phải không được mập mờ. Theo Kotler, điều này có nghĩa là nhiệm vụ trước mắt cần phải được mô tả rõ ràng để tâm trí chúng ta có thể tập trung vào khoảnh khắc và hành động hiện tại. Thay vì tự hỏi bước tiếp theo có thể là gì.
Goal clarity – numerous studies that we’ve already mentioned (and a whole wider range) support the idea that the goal we are working towards must be unambiguous. According to Kotler, that means the task at hand needs to be clearly delineated so our minds can stay focused on the present moment and action. Rather than wondering what the next step might be.
– Phản hồi tức thì – Như Kotler chia sẻ: “Mục tiêu rõ ràng nói với chúng ta rằng mình đang làm gì; phản hồi tức thời nói với chúng ta làm sao để làm tốt hơn.” Phản hồi tức thời cũng căn chỉnh nhận thức và sự tập trung của chúng ta, như định nghĩa ban đầu của Csikszentmihalyi về bản chất của trạng thái Dòng chảy.
Immediate feedback – As Kotler says: “Clear goals tell us what we’re doing; immediate feedback tells us how to do it better”. Instant feedback also aligns our awareness and attention, as per Csikszentmihalyi’s early definitions of the nature of a Flow state.
– Tỷ lệ thách thức với kỹ năng – nhiệm vụ quá khó có thể khiến ta bị ngợp, không cảm thấy được trang bị đủ để đối mặt với chúng, và rơi vào lo âu. Nhiệm vụ quá dễ, mặt khác, lại gây nhàm chán. Kotler tin rằng, để kích hoạt Dòng chảy, một mục tiêu cần ở điểm cân bằng của hai thái cực này.
Challenge to skills ratio – too-challenging tasks can make us feel overwhelmed, unequipped to face them, and anxious. A task that’s too simple, on the other hand, can induce boredom. To trigger flow, a goal should be halfway between these two extremes, Kotler believes.
Các yếu tố châm ngòi từ môi trường. Environmental triggers
Không giống như bốn yếu tố châm ngòi đề cập ở trên, các yếu tố châm ngòi từ môi trường là những khía cạnh về môi trường xung quanh giúp ta đi vào sâu hơn trạng thái dòng chảy.
Unlike the four psychological triggers we considered above, environmental triggers are aspects of our surroundings that help us get further into a flow state.
– Hệ quả cao – Sự tập trung và chú ý của chúng ta được tăng cường theo bản năng khi ta cảm nhận được một mối nguy hiểm trong môi trường. Đây là một mối đe dọa chủ quan do chủ thể cảm nhận được, với một số người, nó có thể là hùng biện trước mọi người hoặc tiếp cận một người ai đó. Với những vận động viên chuyên nghiệp Kotler phỏng vấn, thì nó có thể là một mối nguy hiểm mang tính tức thời hơn.
High consequences – Our concentration and focus are instinctively heightened when we detect a sense of danger in our environments. This is a subjective and perceived threat, for some, it could be speaking publicly or approaching another person. For the extreme athletes Kotler interviews, it may be a more immediate physical danger.
– Môi trường phong phú – Khi ta ở trong những môi trường mới, phức tạp, năng động hoặc khó đoán, sự tập trung và chú ý của chúng ta được mở rộng. Khi có sự phức tạp của môi trường, nó hướng sự chú ý của ta lên một thông tin mới xuất hiện.
Rich environments – When we’re in new, complex, and dynamic or unpredictable environments, our focus and attention are enhanced. With regard to environmental complexity, it switches our attention on to the different information headed our way.
– Hiện thân sâu sắc – Ở đây, Kotler đang muốn nói tới nhận thức thể chất toàn diện, và điều này sẽ dễ hiểu hơn khi ta thảo luận dòng chảy trong tâm lý học thể thao trong khoảnh khắc ngắn hạn. Tóm lại, nó là một cách ta cảm nhận quyền kiểm soát với năng lực thể chất, và mối liên hệ giữa quyền kiểm soát ta cảm nhận được này với thành tích đạt được.
Deep embodiment – Here, Kotler is referring to total physical awareness, and when we discuss Flow in sports psychology in a short moment, this may make more sense. Succinctly, it relates in one way to our sense of control over our physical performance, and the link between this perceived control and goal achievement.
Yếu tố châm ngòi từ xã hội. Social triggers
Yếu tố châm ngòi từ xã hội đóng vai trò cực kỳ quan trọng nếu ta đang cố nỗ lực tạo ra một trạng thái dòng chảy lớn theo nhóm. Một số ứng dụng thực tế có thể là các đội nhóm thể thao, và các nhóm làm việc cùng nhau.
Social triggers have great importance if we are attempting to generate greater group flow. Some practical applications would include team sports, and workgroup dynamics.
– Tập trung nghiêm túc – chúng ta không đơn độc trong dạng thức dòng chảy này, thay vào đó ta cần tập trung như một đội nhóm trong khoảnh khắc hiện tại, để loại bỏ những phiền nhiễu từ bên ngoài.
Serious concentration – we aren’t solo for this type of Flow, rather we need to focus as a team on the present, to the exclusion of outside distractions.
– Mục tiêu chung rõ ràng – mặc dù tương tự như nội dung Kotler đề cập trước đó về mục tiêu rõ ràng dưới dạng một yếu tố châm ngòi, điều này ứng dụng trong cách ta giao tiếp trong nhóm.
Clear, shared goals – while similar to Kotler’s earlier mention of a clear goal as a psychological trigger, this has implications for how we communicate in groups.
– Giao tiếp tốt – chú ý và xây dựng từ những cái mọi người đóng góp trong các phiên thảo luận nhóm.
Good communication – paying attention to and building on what others contribute to group discussions.
– Sự thân thuộc – là ngôn ngữ chung được nhóm sử dụng , không chỉ giao tiếp bằng lời mà còn cả những gợi ý giao tiếp không lời. Ta sẽ dễ nhìn thấy được sự liên kết mật thiết giữa nó với văn hóa tổ chức trong bối cảnh công việc.
Familiarity – this relates to a collective language within the group, extending beyond verbal expression to encompass nonverbal cues, too. It’s easy to see how this can be linked closely to organizational culture in a work context.
– Mức kỹ năng và tham gia ngang bằng – ở nơi làm việc, điều này có nghĩa là các tham dự viên khác nhau nên có sự góp phần ngang bằng trong quá trình thực hiện một dự án. Được kết hợp với ý tưởng cho rằng tỷ lệ
Equal participation and skill level – in the workplace, this means different participants should have an equal part to play in the execution of a project. It’s connected to the idea that a certain challenge-skill ratio will be ideally suited to group members who are similarly equipped to handle the task.
– Nguy cơ – có sự tương đồng mạnh mẽ với yếu tố kích hoạt ‘Môi trường phong phú’ dành cho cá nhân. Kotler liên kết điều này rất hay với ý tưởng rằng sự đổi mới và rủi ro song hành với nhau.
Risk – strong parallels for this one with the ‘Rich Environments’ trigger for individuals. Kotler links this very nicely to the idea that innovation and risk go hand-in-hand.
– Cảm giác kiểm soát – nếu không thể liên hệ hành động của nhóm với các mục tiêu của tập thể, thì sẽ chẳng có hy vọng gì cho động lực nội tại. Ta cũng sẽ không cảm thấy mình được trang bị đủ để xử lý những nghiệm vụ được cho là quá khó.
Sense of control – without being able to link our group actions to the collective goal, there’s no spark of intrinsic motivation. Nor will we feel adequately equipped for tasks that are perceived to be too difficult.
– Lắng nghe kỹ – những gì được trao đổi, ngay tại đây và ngay bây giờ.
Close listening – to what’s being said, here and now.
– Luôn đồng ý – theo lời Kotler, “tương tác nên được bổ sung nhiều hơn là tranh luận,” vì điều này vừa tạo ra động lực, vừa bồi đắp tinh thần hợp tác.
Always say yes – in Kotler’s words, “interactions should be additive more than argumentative”, as this both generates momentum and harbors a collaborative spirit.
Yếu tố châm ngòi sáng tạo. Creative triggers
Sáng tạo – Kotler giải nghĩa khái niệm này thành nhận diện theo mẫu và chấp nhận rủi ro. Hãy nghĩ về cách trái táo nổi tiếng rớt xuống đầu Newton trước khi ông dũng cảm đưa ra khái niệm trọng lực như một ý tưởng hay cho những gì ông đang trao đổi. Trạng thái dòng chảy châm ngòi cho sự sáng tạo, sáng tạo châm ngòi cho Dòng chảy, cứ thế như hiệu ứng domino.
Creativity – Kotler unpacks this concept into pattern recognition and risk-taking. Think of how the famous apple fell on Newton’s head before he bravely proposed the concept of gravity for a good idea of what he’s discussing. Flow triggers creativity, which triggers flow, and so forth in a domino effect.
Thiền định và Dòng chảy tâm lý. Meditation and Flow
Thiền và dòng chảy tâm lý có rất nhiều điểm chung – chìm đắm trong tỉnh thức, và nếu làm đúng, họ sẽ trải nghiệm một cảm quan khác biệt về thời gian và không gian. Huấn luyện viên kiêm võ sĩ Stacey Nemour đã chia sẻ một số gợi ý giúp sử dụng thiền định để bước vào trạng thái dòng chảy trong bài viết tuyệt vời trên tờ Huffington Post, một số ví dụ bao gồm:
Meditation and Flow have lots in common – loss of self-consciousness, and when done right, a differential sense of time and our surroundings. Coach and martial artist Stacey Nemour has shared some tips on using meditation to get into the Flow state in her superb Huffington Post article, some examples include:
– Thư giãn mắt và tập trung vào hơi thở – trong khi gắn mình vào bất kỳ môn thể thao hoặc hoạt động nào bạn đã chọn làm. “hãy cảm nhận cơ thể làm theo, điều này sẽ làm sạch và làm bình ổn tâm trí và cơ thể,” bà viết.
Relaxing your eyes and focusing on your breath – while engaging in whatever sport or activity it is that you’ve picked. “Feel the body follow, this will clear and calm the mind and body”, she writes.
– Vượt ra khỏi giới hạn – để hoạch định thành công, Nemour nói, bạn cần “hòa vào với những phiên bản cao nhất của bản thân.” Thiền có thể giúp mang tâm trí, cơ thể và linh hồn lại với nhau trong trạng thái dòng chảy thực sự, nơi ta hòa mình vào với mục tiêu. Và đương nhiên, cảm giác kiểm soát được các kỹ năng để đạt được các mục tiêu đó.
Get out of your own way – to program for success, Nemour says, it’s important to “merge with your highest visions of yourself”. Meditation can help us bring our mind, body, and spirit together in that truly focused Flow state of being where we’re attuned with our goals. And of course, a sense of controls over our skills to achieve them.
– Kết nối với toàn bộ sức mạnh sáng tạo của bạn – bằng tập luyện, thiền định giúp ta chuyển sang trạng thái tỉnh thức mới mà ta mong muốn. Cũng giống như kiểu tập luyện liên tục rất quen thuộc ở nhóm vận động viên: khi ta càng có kinh nghiệm vận động hoặc những hoạt động tương tự, ta có thể học cách loại bỏ những thứ gây xao nhãng, cả bên trong lẫn bên ngoài.
Connect with your full creative power – with practice, meditation allows us to move into an altered state of consciousness when we want to. It’s the same kind of consistent practice that athletes will be familiar with: as we get more experienced with working out or similar, we can learn to tune out distractions, both internal and external.
Tầm quan trọng của dòng chảy tâm lý trong công việc. The importance of flow in the workplace

Tại nơi làm việc, dòng chảy tâm lý có ứng dụng lớn trong năng suất làm việc. Chúng ta đều đã từng nghe câu châm ngôn từ xưa “Làm công việc bạn yêu thích và bạn sẽ không bao giờ phải làm việc một ngày nào trong đời.”
In the workplace, Flow has huge implications for productivity. We’ve all heard the old adage “pick a job you love and you’ll never work a day in your life”.
Tuy nhiên, trong thực tế thế kỷ 21, chúng ta có quá nhiều thứ làm xao nhãng. Từ thông báo điện thoại đến tin báo email liên tục, chúng ta nên trang bị tốt hơn để bản thân tập trung và tận hưởng những công việc ngay từng thời điểm nếu chúng ta có thể đưa bản thân vào “dòng chảy.”
In the reality of the 21st century, however, distractions abound. From buzzing telephones to constant email notifications, we’re much better equipped to focus on and enjoy the tasks at hand if we can enter a Flow state.
Đào sâu vào bài viết của Kotler, dòng chảy tâm lý có thể đưa đến nhiều lợi ích tại nơi làm việc – bắt đầu bằng quá trình học tập nhanh.
Diving a little deeper into Kotler’s HBR article, there are many benefits that Flow can have in the workplace – starting with faster learning.
Trích dẫn từ một nghiên cứu từ DARPA, ông chỉ ra những kết quả cho thấy những tay súng bắn tỉa được đào tạo về dòng chảy tâm lý có thể đạt đến cấp độ chuyên gia trong khoảng thời gian rút ngắn hơn một nửa. Từ góc nhìn tổ chức, điều này có thể tác động lớn lao trong cấu trúc và tạo ra một môi trường làm việc có thể thúc đẩy huấn luyện và phát triển hiệu quả hơn.
Citing a military study from DARPA, he points to the findings that snipers who trained in a Flow state reached expert level in half the time. From an organizational perspective, this has massive potential impacts for structuring and creating a work environment that can nurture more efficient training and development.
Tại nơi làm việc, Dòng chảy tâm lý thậm chí còn có ứng dụng trong cách ta tiếp cận cải tiến. Những điều này cũng không nằm ngoài khái niệm học tập nhanh. Việc bước vào và làm chủ được trạng thái dòng chảy tâm lý có liên hệ mật thiết với ý thức của chúng ta, “rơi vào dòng chảy” có thể giúp chúng ta giảm bớt được tác động của những xao nhãng liên tục lên quá trình sáng tạo.
In the workplace, Flow even has implications for how we tackle our approach to innovation. These aren’t unrelated to the concept of faster learning, either. As entering and attaining a Flow state is closely linked to our awareness, being ‘in Flow’ can help us mitigate the impacts of those constant distractions on our creativity.
Trích dẫn từ ý kiến cyuarJohn Hagel của Trung tâm tăng trưởng doanh nghiệp Deloitte cho EDG, Kotler chỉ ra làm sao mà dòng chảy tâm lý có thể giúp chúng ta tiếp nhận những luồng thông tin khác nhau và sử dụng chúng một cách sáng tạo.
Quoting John Hagel of Deloitte’s corporate growth Center for the Edge, Kotler points out how getting in the zone can help us take these different streams of information and use them creatively:
“Dòng chảy tâm lý cho phép bạn thu nạp thông tin, tổng hợp và thống nhất nó. Điều này thúc đẩy quá trình sáng tạo. Vậy nên trong khi mọi người hay bị xao nhãng, thì những người trong trạng thái dòng chảy tâm lý lại trong quá trình thích nghi – họ dùng trạng thái tinh thần này để đưa hiệu suất làm việc lên một tầm cao mới.”
“Flow allows you to absorb that information, synthesize it, and integrate it. This drives the creative process. So while everyone else is driven to distraction, people in flow are adapting — they’re using the state to take performance to the next level.”
Dòng chảy tâm lý trong Thể thao và huấn luyện. A Look at Flow in Sports and Training
Trong thể thao và huấn luyện, những kiến thức về tình trạng sức khỏe tinh thần, những thách thức và năng lực thể hiện đều có liên quan với nhau khi ta ứng dụng kết hợp thuyết Dòng chảy tâm lý và thuyết đinh hướng – động lực lại với nhau.
When it comes to sports and training, our understandings of mental state, challenges, and our performance are all related when we use Flow theory and goal-orientation theory together.
Để đáp lại sự nhấn mạnh quá mức vào các khía cạnh tiêu cực trong trải nghiệm của các vận động viên, như căng thẳng và lo âu, ngày càng có nhiều các nhà tâm lý học thể thao đã hướng sự chú ý của mình vào các trạng thái tích cực có thể giúp nâng cao hiệu suất (Stavrou và cộng sự., 2015). Và trạng thái dòng chảy chính là một trong số đó.
In response to a perceived over-emphasis on the negative aspects of athletes’ experiences, such as stress and anxiety, more sports psychologists have been turning their attention to the positive states that can enhance performance (Stavrou et al., 2015). And Flow is one of them.
Trong một góc nhìn toàn diện về các khía cạnh mang tính dự đoán của trạng thái dòng chảy ở hiệu suất thể thao, Jackson và cộng sự (2001) đã phát hiện ra hai yếu tố đặc biệt quan trọng. Đó là sự cân bằng giữa độ khó của nhiệm vụ thể thao vận động viên cảm nhận được với bộ kỹ năng của vận động viên đang có, và sự hiện diện của mục tiêu rõ ràng, không mập mờ.
In a comprehensive look at the predictive aspects of Flow on athletic performance, Jackson and colleagues (2001) found two factors were particularly important. These were the balance between the perceived difficulty of the athletic task against the athlete’s perceived skill set, and the presence of clear, unambiguous goals.

Khi vận động viên tận hưởng bản thân môn thể thao, vận động viên phải hoàn toàn bị đắm chìm vào trải nghiệm tự động của sự kiện đang diễn ra thì mới có thể nâng cao sự tận hưởng này.
When it came to athletes enjoying the sport itself, it was important that athletes become totally absorbed in an autotelic experience of the event to enhance this enjoyment.
Nghiên cứu thực nghiệm, dựa trên bảng hỏi của Stavrou và cộng sự (2015) đã tìm hiểu sự tập trung vào nhiệm vụ và trạng thái dòng chảy của các vận động viên để hiểu được cảm quan của họ về sự kiểm soát lên nỗ lực và hiệu suất (Cumming và Hall, 2014). Sau cùng, các vận động viên tập trung vào nhiệm vụ sẽ dễ có trải nghiệm tích cực hơn với các yếu tố trong trạng thái Dòng chảy – tập trung cao hơn và có cảm giác kiểm soát được hoạt động mình đang làm.
Stavrou and colleagues’ (2015) empirical, questionnaire-based study looked at athletes’ task-focus and Flow to understand their sense of control over effort and performance (Cumming and Hall, 2004). Ultimately, task-oriented athletes were more likely to have a more positive experience in terms of Flow factors – greater concentration and a sense of control over the activity.
Nguồn: https://positivepsychology.com/what-is-flow/
Như Trang